Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2025/HNGĐ - ST

Ngày: 18/12/2025

“V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Trĩnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Tịnh và ông Lê Quang Thế.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 18/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2025/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 20/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2025/QÐST – HNGĐ, ngày 08/12/2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1992 (vắng mặt).

Quê quán: Thôn Bình Phú, xã Việt Yên, tỉnh Hưng Yên.

HKTT: thôn Thành Công, xã Chí Minh, tỉnh Hưng Yên.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1992 (vắng mặt).

HKTT, trú tại: thôn T, xã C, tỉnh Hưng Yên.

3. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm: 1966 (vắng mặt).

HKTT: thôn T, xã C, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Quang B, sinh năm 1992 là người ở thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn T, xã C, tỉnh Hưng Yên) trên cơ sở tự nguyện và đã được UBND xã N đăng ký kết hôn ngày 14/5/2011.

Sau khi kết hôn, chị chuyển khẩu và về chung sống cùng anh B tại thôn T, xã N. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi chửi nhau, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, lối sống và khó khăn về kinh tế nên ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng. Do cuộc sống căng thẳng nên chị đã chuyển về nhà bố, mẹ đẻ ở thôn B, xã Y sinh sống từ năm 2022, vợ chồng ly thân từ đó đến nay, cả hai không còn quan tâm chăm sóc nhau, kinh tế hoàn toàn độc lập. Nay xét thấy tình cảm không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 27/12/2011 và Nguyễn Quang Đ, sinh ngày 21/12/2016, hiện các cháu đang ở cùng anh B. Chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung, nếu không được chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu L và giao cháu Đ cho anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, về công nợ chung, về công sức đóng góp chung với hai bên gia đình, về đất nông nghiệp 03 của chị H, anh B: Chị không yêu cầu đặt ra xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Thùy L và cháu Nguyễn Quang Đ trình bày: Các cháu là con của anh Nguyễn Quang B và chị Nguyễn Thị H. Gia đình cháu có hai chị em. Quá trình chung sống, các cháu thường xuyên chứng kiến bố, mẹ cãi nhau nhưng các cháu không rõ nguyên nhân. Nay bố, mẹ các cháu làm thủ tục ly hôn, cháu Đ có nguyện vọng được ở cùng với anh B, còn cháu L có nguyện vọng được ở cùng chị H.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/10/2025, người làm chứng là bà Nguyễn Thị V trình bày: Bà là mẹ đẻ anh Nguyễn Quang B. Năm 2011, gia đình bà tổ chức cho anh B kết hôn cùng chị H, anh, chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi kết hôn vợ chồng anh B chung sống tại thôn T, xã N. Quá trình chung sống bình thường, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do kinh tế gặp khó khăn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Việc chị H xin ly hôn với anh B, anh B đã biết và nhất trí ly hôn. Vợ chồng anh B có hai con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 27/12/2011 và Nguyễn Quang Đ, sinh ngày 21/12/2016 hiện đang ở cùng bà và anh B, bà không yêu cầu về công sức đóng góp chăm sóc hai cháu, anh B có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đ. Về tài sản chung, về công nợ chung, về đất nông nghiệp 03 của hai vợ chồng bà không nắm rõ. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết, anh B có nhận được Thông báo thụ lý và Giấy triệu tập của Tòa án, bà nhất trí nhận văn bản của Tòa án và có trách nhiệm giao lại cho anh B.

Két quả xác minh ngày 20/11/2025 tại Công an xã C và ngày 20/10/2025 tại UBND xã C xác định: Anh Nguyễn Quang B hiện đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã C, tỉnh Hưng Yên. Anh Nguyễn Quang B kết hôn cùng chị Nguyễn Thị H có đăng ký kết hôn tại UBND xã N ngày 14/5/2011 (số B, quyển 01). Do chị H không gửi đơn đến UBND nên xã không nắm được nguyên nhân, diễn biến mâu thuẫn của anh, chị nhưng thực tế anh, chị đã sống ly thân. Vợ chồng anh B có hai con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 27/12/2011 và Nguyễn Quang Đ, sinh ngày 21/12/2016. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và về đất ruộng nông nghiệp của vợ chồng anh B, chị H, chính quyền địa phương không nắm được. Việc chị H xin ly hôn với anh B, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Nguyên đơn vắng mặt do đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vự 3 – Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, người làm chứng đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không tuân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 144; khoản 4 Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.

Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, giao Nguyễn Quang Đ, sinh ngày 21/12/2016 cho anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 27/12/2011 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Sau khi ly hôn, chị H, anh B được quyền thăm nom và quyền xin thay đổi nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung; công nợ chung; công sức đóng góp của anh, chị đối với hai bên gia đình và về đất canh tác nông nghiệp 03: Không đặt ra giải quyết. Về án phí, chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: Ngày 02/10/2025, chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện anh Nguyễn Quang B, xin được ly hôn và giải quyết về con chung cũng như các vấn đề có liên quan. Anh Nguyễn Quang B có hộ khẩu thường trú; trú tại thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Nay là thôn T, xã C, tỉnh Hưng Yên). Như vậy, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Vì vậy, căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang B kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, anh, chị đã được UBND xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên đăng ký kết hôn vào ngày 14/5/2011 (số B, quyển 01), do đó đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc. Quá trình giải quyết, chị H khẳng định quá trình chung sống, vợ chồng mâu thuẫn, không hạnh phúc và đã ly thân, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc nhau phù hợp với lời khai của mẹ đẻ anh B là bà Nguyễn Thị V cũng như kết quả xác minh tại địa phương. Quá trình giải quyết chị H cương quyết xin ly hôn, anh B đã được triệu tập nhiều lần nhưng không đến, không tham gia hòa giải và không thể hiện thiện trí vợ chồng đoàn tụ. Xét cuộc sống, hạnh phúc gia đình anh, chị đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được như quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình nên theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ - HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình cần xử cho chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quang B được ly hôn để cả hai sớm tạo lập cuộc sống mới.

3. Về nuôi con chung: Vợ chồng anh, chị có hai con chung là cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 27/12/2011 và Nguyễn Quang Đ, sinh ngày 21/12/2016, hiện đều đang ở cùng anh B. Quá trình giải quyết vụ án, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, trường hợp không được nuôi cả hai cháu, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, còn cháu Đ để anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị H là hoàn toàn chính đáng. Do các cháu còn nhỏ cần chăm sóc trong thời gian dài nếu giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sẽ gây khó khăn cho chị H và làm ảnh hưởng đến quá trình học tập, phát triển của các cháu, mặc dù anh B không tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết, chưa có quan điểm trình bày nhưng qua xác minh, cũng như lời khai của bà V là mẹ đẻ anh B, hiện anh B vẫn thường xuyên sinh sống cùng hai con chung tại thôn T, xã C. Xét điều kiện của cả hai anh chị đều có đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy, nên để cả anh và chị đều được trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo quyền lợi cũng như việc thực hiện chăm sóc các cháu, cháu L là con gái cần sự chăm sóc của người mẹ nên giao cháu L cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đ cho anh B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp, như nguyện vọng của chị H, của cháu L và cháu Đ cũng như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ. Do chị H không yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung và anh B chưa có quan điểm trình bày nên không đặt ra xem xét giải quyết. Khi nào anh, chị có yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác. Sau khi ly hôn chị H, anh B có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung; công nợ chung; công sức đóng góp chung của vợ chồng đối với hai bên gia đình và về đất nông nghiệp 03: Do chị H không yêu cầu và anh B vắng mặt, chưa có ý kiến và yêu cầu phân chia nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này. Khi nào anh, chị có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.

5. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức nộp án phí, lệ phí Toà án.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 144; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Xử;

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Quang B.

2. Về nuôi con chung:

Giao cháu Nguyễn Thùy L, sinh ngày 27/12/2011 cho chị Nguyễn Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Giao cháu Nguyễn Quang Đ, sinh ngày 21/12/2016 cho anh Nguyễn Quang B tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết. Khi nào anh B, chị H có yêu cầu việc đóng góp nuôi con chung sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.

Sau khi ly hôn, chị H và anh B có quyền xin thay đổi nuôi con; quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung; công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và về đất canh tác nông nghiệp 03: Không đặt ra giải quyết. Khi nào anh B, chị H có yêu cầu phân chia sẽ làm đơn khởi kiện để xem xét giải quyết trong vụ án dân sự khác.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0001665, ngày 02/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên. Chị H đã thi hành xong phần án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSNDKV3 – Hưng Yên;
  • - THADS tỉnh Hưng yên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Chí Minh,
  • - Lưu: Hồ sơ, Vp.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Duy Trĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 50/2025/HNGĐ - ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 50/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGD số 50 ngày 18/12/2025 về Xin ly hôn giữa chị H và anh B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger