|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Khu vực 9 – Bắc Ninh |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 49/2025/HSST Ngày 18/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Thiên Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lịch.
Ông Hoàng Công Hằng.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuyên – Thẩm tra viên TAND khu vực 9 - Bắc Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tập - Kiểm sát viên.
Người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Chí Q – Cán bộ công nghệ thông tin.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở TAND khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là TAND khu vực 9 – Bắc Ninh và điểm cầu thành phần tại phòng xét xử Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B vụ án hình sự thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 19/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 02/12/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994.
NĐKHKTT: Thôn K, phường T, thành phố Hải Phòng.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Nguyễn Văn Đ1 (đã chết).
Con bà: Ngô Thị C, sinh năm 1971.
Gia đình bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai.
Có vợ: Vi Thị C1, sinh năm 1996 (đã ly hôn).
Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016.
Tiền án: Có 01 tiền án.
Bản án số 159/2023/HSST ngày 18/12/2023 của TAND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (nay là TAND khu vực 6 – Thành phố Hà Nội) xử phạt Nguyễn Văn Đ 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 16/01/2025, nộp tiền án phí ngày 06/5/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 64/2020/HSST ngày 14/8/2020 của TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là TAND khu vực 9 – Thành phố Hải Phòng) xử phạt Nguyễn Văn Đ 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 07/7/2021, nộp tiền án phí ngày 05/11/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh B - Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 07/8/2025, tại đường L, xã N, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an xã N bắt quả tang Nguyên Văn Đ2 có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy.” Thu giữ tại lòng bàn tay trái của Đ2 01 (một) gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mở ra bên trong có chất bột màu trắng dạng cục. Đ2 khai nhận chất màu trắng dạng cục này là ma túy Heroin mà Đ2 vừa mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) để về sử dụng do Đ2 là người nghiện ma túy. Sau đó, trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Đức C2, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1973 cùng hộ khẩu thôn T, xã N, tinh B, tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định và tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Đ2 (niêm phong ký hiệu M2) để phục vụ việc giám định ma túy.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số C338, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định đối với chất bột màu trắng dạng cục và mẫu nước tiểu thu giữ của Đ2.
Tại bản kết luận giám định số 1733 ngày 08/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
+ Chất bột màu trắng dạng cục bên trong 01 (một) gói nhỏ, vỏ ngoài bằng giấy màu trắng bạc gửi giám định có khối lượng là 0,1214 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine (H).
+ Mẫu nước tiểu ghi thu của Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1994, HKTT: tổ dân phố K, phường T, thành phố Hải Phòng bên trong chai nhựa ký hiệu “M2” gửi giám định có tìm thấy 6-MAM (6- M) là sản phẩm chuyển hóa của Heroine (H).
Heroine (H) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra xác định:
Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 07/8/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy và có nghe bạn bè giới thiệu nên Đ một mình đi bộ từ chân cầu B đến khu vực thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ gặp 01 người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi trông giống người sử dụng ma túy nên Đ tiến lại gần hỏi: “Anh có bán đồ không, bán cho em 400.000 đồng” thì người đàn ông này đồng ý. Đ đưa cho người đàn ông này 400.000 đồng thì người này đồng ý cầm tiền và đưa lại cho Đ 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng. Đ hiểu đây là ma túy nên cầm gói giấy bạc ở tay trái rồi quay lại đi bộ về nhà để tìm nơi sử dụng. Khi Đ đang đi bộ trên đường làng thuộc thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh thì bị tổ công tác Công an xã N phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận hành vi cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân như nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng. Bị cáo không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng.
Cáo trạng số 37/CT – VKSKV 9 ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận như nội dung bản cáo trạng là đúng. Bản thân bị cáo thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là 0,1214 gam là ma túy, loại ma tuý Heroine (H) để sử dụng cho bản thân thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 37/CT-VKSKV9 ngày 17/11/2025. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh thừa nhận có tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh đã làm đúng, đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 07/8/2025, tại khu vực đường L, xã N, tỉnh Bắc Ninh, khi Nguyễn Văn Đ đang có hành tàng trữ trái phép 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất ma túy có khối lượng 0,1214 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine tại tay trái của mình, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã N, tỉnh Bắc Ninh, phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Ngoài ra hành vi của bị cáo gây khó khăn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng và là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là đối tượng có nhân thân xấu và là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Tại bản án số 159/2023/HSST ngày 18/12/2023 của TAND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (nay là TAND khu vực 6 – Thành phố Hà Nội) xử phạt Nguyễn Văn Đ 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 16/01/2025, nộp tiền án phí ngày 06/5/2024. Trước đó, tại bản án số 64/2020/HSST ngày 14/8/2020 của TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là TAND khu vực 9 – Thành phố Hải Phòng) xử phạt Nguyễn Văn Đ 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 07/7/2021, nộp tiền án phí ngày 05/11/2020.
Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Lần phạm tội này, bị cáo pham tội khi chưa được xóa án tích của bản án số 159/2023/HSST ngày 18/12/2023 của TAND huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội (nay là TAND khu vực 6 – Thành phố Hà Nội). Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân, không vì mục đích vụ lợi, thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.
Liên quan trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Đ ngày 07/8/2025, do Đ không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B chưa có đủ căn cứ để điều tra làm rõ, khi nào xác minh làm rõ sẽ xem xét, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 329, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/8/2025.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư chứa mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư, bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong, dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Tạm giam bị cáo Nguyễn Văn Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
|
Nơi nhận;
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thiên Hà |
Bản án số 49/2025/HSST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN Khu vực 9 – Bắc Ninh về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 49/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN Khu vực 9 – Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
