Hệ thống pháp luật

DÂN TOÀ ÁN NHÂN

KHU VỰC 3 - NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HNGĐ – ST

Ngày 12/12/2025.

(V/v: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Phiếu.
    2. Bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.

Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Hoàng Thị Thu Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2025/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 06 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QÐST - HNGĐ, ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Phan Thị T, sinh năm 1991; Nơi cư trú: thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình.
  • - Bị đơn: anh Quách Văn K, sinh năm 1984; Nơi cư trú: thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 10 năm 2025 và bản tự khai, nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày: tôi và anh Quách Văn K được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND thị trấn Y, tỉnh Ninh Bình vào ngày 26/7/2011. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống cùng gia đình anh K tại thôn M, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình) Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng với nhau về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung với nhau nên thường xuyên xẩy ra va chạm cãi chửi nhau. Nay tôi xác định mâu thuẫn vợ chồng tôi đã đến mức thật sự trầm trọng không thể khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Quách Văn K. Về con chung: chúng tôi có với nhau 02 người con chung tên là Quách Thị Khánh N, sinh ngày 28/08/2012 và Quách Cao D, sinh ngày 22/10/2015, hiện nay hai người con chung đang ở anh K, do điều kiện tôi phải đi làm ăn xa nên tôi đề nghị anh K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tôi có trách nhiệm đóng góp tiền nuôi con chung cho anh K mỗi tháng 2.000.000đ cho một người con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản và công nợ chung: tôi không đề ghị Tòa án xem xét giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và đã nhiều lần tống đạt trực tiếp các loại văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Quách Văn K vẫn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.

Tại biên bản xác minh ngày 30/10/2025, bà Trần Thị T1, là mẹ đẻ anh Quách Văn K cho biết: anh K, chị T được tự do tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình vào ngày 26/07/2011. Sau khi kết hôn, anh K, chị T sống cùng gia đình tại thôn M, xã G, huyện N (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình). Anh K, chị T chung sống hạnh phúc được một thời gian sau. Năm 2017 do kinh tế khó khăn, nên vợ chồng anh K, chị T đã vay mượn tiền để cho chị T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ khi chị T đi xuất khẩu lao động, chị T không hề quan tâm đến cuộc sống gia đình, cũng từ đó cho đến nay anh K và chị T sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Bà T1 xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh K, chị T đến nay đã thật sự trầm trọng, cơ hội để vợ chồng đoàn tụ với nhau là rất thấp, việc ly hôn hay không do anh K, chị T tự quyết định. Về con chung: anh K, chị T có với nhau 02 người con chung tên là Quách Thị Khánh N, sinh ngày 28/08/2012 và Quách Cao D, sinh ngày 22/10/2015, từ khi chị T đi xuất khẩu lao động và sống ly thân với anh K thì hai người con chung đang ở anh K. Bà T1 đề nghị Toà án xem xét giải quyết để anh K tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai người con chung, chị T phải có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng với anh K.

Tại biên bản lấy lời khai cháu Quách Thị Khánh N và cháu Quách Cao D đều có nguyện vọng muốn được tiếp tục ở với anh K.

Tại phiên toà bà Kiểm sát viên cũng đã có bài phát biểu khẳng định quá trình giải quyết vụ án: Về mặt tố tụng Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã xác định đúng, đầy đủ những người tham gia tố tụng, tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm thủ tục tố tụng dân sự. Về nội dung bà Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: xử cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Quách Văn K; về con chung đề nghị giao cả hai người con chung cho anh Quách Văn K tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Chị Phan Thị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với anh K mỗi tháng 2.000.000đ cho một người con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi; về án phí: chị Phan Thị T phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng và 300.000đ tiền án phí cấp dưỡng nuôi con được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp, chị T còn phải nộp tiếp 300.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Quách Văn K có địa chỉ tại thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình. Vì vậy việc Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Ninh Bình áp dụng Điều 28; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do chính đáng dù đã được triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phan Thị T và anh Quách Văn K là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn hai người chung sống với nhau tại thôn M, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình (nay là xã G, tỉnh Ninh Bình). Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Năm 2017 do kinh tế khó khăn chị T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thì vợ chồng bắt đầu xẩy ra mâu thuẫn hai bên không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Chị T khẳng định hiện nay mâu thuẫn vợ chồng chị đã đến mức thật sự trầm trọng không khắc phục được, chị không còn yêu thương anh K nữa. Bản thân anh K không có mặt tại Tòa án để làm việc, trong khi anh K vẫn đang sinh sống tại thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình, dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều đó chứng tỏ anh K không có thiện chí hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do đó có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phan Thị T và anh Quách Văn K đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị T. Xử cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Quách Văn K là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung: Chị Phan Thị T và anh Quách Văn K có với nhau 02 người con chung tên là Quách Thị Khánh N, sinh ngày 28/08/2012 và Quách Cao D, sinh ngày 22/10/2015, hiện nay cả hai người con chung đang ở với anh K, điều kiện chị T đi làm ăn xa, không có điều kiện chăm sóc con chung, nguyện vọng của các con chung được ở với anh K. Vì vậy giao cả hai người con chung cho anh K tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung ghi nhận sự tự nguyện đóng góp tiền nuôi con chung của chị T cho anh K mỗi tháng 2.000.000đ/1 con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà không xét.

[5] Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên đây:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84; 107; 110; 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 357 Bộ luật dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Xử cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Quách Văn K.
  2. Về con chung: Giao cháu Quách Thị Khánh N, sinh ngày 28/08/2012 và Quách Cao D, sinh ngày 22/10/2015 cho anh Quách Văn K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Quách Thị Khánh N và Quách Cao D đủ 18 tuổi. Chị Phan Thị T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh K với mức 2.000.000 đồng/1 con/1 tháng, bắt đầu từ tháng 12/2025 cho đến khi cháu Quách Thị Khánh N và Quách Cao D đủ 18 tuổi.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Về án phí: chị Phan Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Ninh Bình theo biên lai số 0001687, ngày 14/10/2025, chị T còn phải nộp 300.000 đồng

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND Khu vực 3- Ninh Bình;
  • - Cục Thi hàn án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Gia Tường;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Vp.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đinh Xuân Tưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HNGĐ – ST ngày 12/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 48/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Thơm - Quách Văn Khà
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger