TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 472/2025/DS-PT Ngày 28 - 11 - 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Bà Tiêu Hồng Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 338/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 411/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1954.
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: Khóm A, xã T, tỉnh Cà Mau (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 03 tháng 6 năm 2025, có mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1972; CCCD số: [...]
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Hồng C, sinh năm 1973; CCCD số: [...]. Địa chỉ cư trú: Ấp E, xã S, tỉnh Cà Mau (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 29 tháng 10 năm 2025, có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1963 (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Hải Q, sinh năm 1971 (vắng mặt).
- Chị Hứa Hồng T1, sinh năm 1991; CCCD số: [...] (có mặt).
- Chị Hứa Như Ý, sinh năm 1999; CCCD số: [...] (có mặt).
- Anh Hứa Đăng H, sinh năm 2006; CCCD số: [...] (có mặt tại phiên tòa ngày 19/11/2025, vắng mặt tại phiên tòa 28/11/2025).
- Anh Nguyễn Hà L, sinh năm 1983 (vắng mặt).
- Chị Nguyễn Mỹ N (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Hồng N1, sinh năm 1956 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của bà N1: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ cư trú: Khóm A, xã T, tỉnh Cà Mau (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 26 tháng 5 năm 2025, có mặt).
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị K là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp của ông ngoại tên Nguyễn Văn T2 (chết) tặng cho vợ chồng nguyên đơn phần đất 06 công tầm 03 mét, sau đó ông T2 yêu cầu tặng cho lại ông Nguyễn Văn Đ phần đất 02 công tầm 03 mét, cả 02 phần đất nằm liền kề chung 01 dây đất và sử dụng chung đường nước (việc ông T2 cho đất vợ chồng nguyên đơn và ông Đ thì không có làm giấy tờ gì). Quá trình quản lý và sử dụng đất thì vợ chồng nguyên đơn được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn D đứng tên đối với diện tích đất 4720m² – tại thửa số 270 – tờ bản đồ số 15 (sau đó xin cấp đổi lại và được cấp diện tích 4.969,2m² – tại thửa số 473 – tờ bản đồ số 5). Năm 2022 gia đình nguyên đơn chuyển nhượng cho vợ chồng bà Nguyễn Thị K và ông Hứa Văn H1 diện tích đất 04 công đất tầm lớn, có làm giấy tay tại “Giấy sang đất nông nghiệp ngày 19/9/2022”, việc chuyển nhượng đã giao đất cho bên bà K nhận. Bà K cho rằng đất bị thiếu 1/3 công đất nên chưa trả tiền đủ cho ông. Phần đất tranh chấp hiện nay gia đình bà K đang quản lý và sử dụng và cho rằng nhận chuyển nhượng của ông Q, không phải là đất của ông là xâm phạm quyền lợi của ông.
Nay, ông yêu cầu Toà án buộc gia đình bà K trả cho vợ chồng ông diện tích đất theo đo đạc thực tế 330,9m² – tại các thửa 5, 6 theo bản trích đo hiện trạng; Đối với phần đất tranh chấp 107,6m² tại thửa đất số 1 theo bản trích đo hiện trạng xin rút lại yêu cầu. Chi phí tố tụng yêu cầu xem xét theo quy định.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị K trình bày:
Bà K và ông Hứa Văn H1 (đã chết năm 2022) là vợ chồng hợp pháp, giữa bà K và ông H1 có 03 con chung tên Hứa Hồng T1, sinh năm 1991, Hứa Như Ý, sinh năm 1999, Hứa Đăng H, sinh năm 2006 (đã đủ 18 tuổi). Cha mẹ ông H1 đều đã chết, ông H1 không có cha mẹ con nuôi. Nguồn gốc đất tranh chấp vợ chồng nhận chuyển nhượng của ông Q diện tích đất 02 công 1/3 (tầm 03 mét) với giá 28 chỉ vàng 24k, việc chuyển nhượng có lập giấy tay tại “Giấy giao kèo ngày 02/02/2020”, đã nhận đủ đất và đã trả đủ vàng. Khi giao phần đất này thì đất có trụ đá (theo ông Q xác định trụ đá là do ông Q và vợ chồng nguyên đơn cắm, nhưng khi nhận đất thì không có vợ chồng ông D chứng kiến). Đến năm 2022 vợ chồng tiếp tục nhận chuyển nhượng của vợ chồng nguyên đơn phần đất nằm liền kề với phần đất chuyển nhượng trước đó của ông Q, phần đất nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông D là 04 công tầm lớn với giá 90.000.000 đồng/01 công, việc chuyển nhượng có lập giấy tay tại “Giấy sang đất nông nghiệp ngày 19/9/2022”, đã nhận đất (nhưng việc giao đất vợ chồng nguyên đơn xác định trên thực địa là lấn qua phần đất mà bị đơn đã nhận chuyển nhượng của ông Q trước đó với diện tích ¼ công đất, nên không đồng ý và chỉ giao số tiền 330.000.000 đồng) và phát sinh tranh chấp cho đến nay. Bị đơn xác định đất chuyển nhượng từ ông Q và vợ chồng ông D là có diện tích cụ thể rõ ràng (vì toàn bộ phần đất của nguyên đơn và ông Q trước đó đã nhận cố cách đây hơn 20 năm, bị đơn đã sử dụng ổn định ranh giới đất giữa 02 bên đều có trụ đá, sau này bị đơn mới chuyển nhượng toàn bộ đất của 02 bên). Còn việc ông Q, ông Đ và vợ chồng ông D tranh chấp thì không liên quan đến bị đơn.
Nay bị đơn không đồng ý trả đất theo yêu cầu của vợ chồng ông D. Trường hợp giả sử đất tranh chấp Toà án xác định của vợ chồng ông D thì ông Q phải có nghĩa vụ bồi thường về đất theo giá thị trường cho bị đơn theo hợp đồng chuyển nhượng (vấn đề này sẽ yêu cầu giải quyết tranh chấp sau, không yêu cầu xem xét trong vụ án này). Chi phí tố tụng yêu cầu xem xét theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp của ông nội tên Nguyễn Văn T2 (chết) tặng cho vợ chồng bà N1 ông D chỉ 03 công tầm lớn và tặng cho ông Đ phần đất 02 công đất, hiện trạng đất được tặng cho là đất mặt ruộng, phần ruộng tiếp giáp mương và bờ của ông nội còn lại ở chiều dài (nằm bên phía ông Trần Hòa C1 hiện nay) và chiều ngang mặt tiền đất tiếp giáp mương và bờ còn lại của ông nội (nằm bên phía của ông Dương Văn L1), quá trình quản và sử dụng đất thì được ông nội tặng cho luôn phần đất mương và bờ (việc cho không có làm giấy tờ gì), nên diện tích đất theo đo đạc thực tế mới nhiều hơn diện tích đất 02 công được cho, phần đất của ông Đ nằm liền kề chung 01 dây đất hiện nay chỉ còn bờ không còn đường mương nước. Quá trình quản lý và sử dụng đất thì chưa được cấp quyền sử dụng đất, đến năm 2006 ông Đ chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất cho ông Nguyễn Hải Q. Ông Đ xác định việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Q và việc ông Q nhượng quyền sử dụng đất lại cho bà K thì đã hoàn thành nghĩa vụ với nhau, nên việc quyết định đối với phần đất là của gia đình bà K, chứ không liên quan gì đến gia đình ông Đ. Trường hợp có phát sinh tranh chấp hợp đồng giữa bà K với ông Q và giữa ông Đ với ông Q thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nay đề nghị Toà án bác yêu cầu khởi kiện của ông D, giữ nguyên hiện trạng đất của bà K nhận chuyển nhượng từ ông Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Hải Q trình bày:
Ông Q là em ruột của ông Đ, nguồn gốc đất và diễn biến quá trình sử dụng đất như ông Đ trình bày là đúng. Năm 2006 ông Q nhận chuyển toàn bộ quyền sử dụng đất của ông Đ với tổng diện tích 02 công + 04 tầm 03 mét (tứ cận: Đông giáp đất còn lại của ông Q là 83 mét, Tây giáp ông C1 86 mét, Nam giáp bà N1 36 mét, B giáp ông L1 36 mét). Khi sang nhượng quyền sử dụng đất thì có mời vợ chồng bà N1 đến cắm ranh (khi này còn bờ mẫu nhỏ, hiện nay không còn), ranh giới giữa 02 bên có cắm trụ đá. Năm 2020 ông Q chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất lại cho bà K quản lý và sử dụng cho đến nay, việc sử dụng đất giữa 02 bên ranh giới như thế nào ông Q không rõ, còn đối với trụ đá hiện nay thì ông Q không xác định được có đúng vị trí cắm ban đầu không. Ông Q xác định việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đ và chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại cho bà K thì đã hoàn thành nghĩa vụ với nhau, nên việc quyết định đối với phần đất là của gia đình bà K, chứ không liên quan gì đến gia đình ông Q. Trường hợp có phát sinh tranh chấp hợp đồng giữa ông Q với bà K và giữa ông Q với ông Đ thì sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nay đề nghị Toà án bác yêu cầu khởi kiện của ông D, giữ nguyên hiện trạng đất của bà K nhận chuyển nhượng từ ông Q.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Hứa Đăng H trình bày:
Thống nhất với toàn bộ lời trình bày, ý kiến và yêu cầu của bà K.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 20/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D.
Buộc bà Nguyễn Thị K cùng chị Hứa Hồng T1, chị Hứa Như Ý và anh Hứa Đăng H có nghĩa vụ giao trả ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Hồng N1 diện tích đất tranh chấp 330,9m² (tại các thửa 5, 6 theo bản vẽ trích đo hiện trạng) – Đất tọa lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
- Đình chỉ xét xử đối yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D đối với phần đất 107,6m² (tại thửa 1 theo bản vẽ trích đo hiện trạng) – Đất tọa lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
(Có bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 27/5/2025 của Công ty TNHH Đ1 thể hiện diện tích, vị trí, mốc giới cụ thể của các phần đất tranh chấp nêu trên (kèm theo)
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24 tháng 7 năm 2025, bà Nguyễn Thị K có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận phần đất tranh chấp cho bà và các con bà được tiếp tục quản lý, sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Kiều G nguyên yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, bà Nguyễn Hồng C tranh luận: Bà K không có lấn chiếm đất của ông D nên không đồng ý trả đất. Trước đây, đất ông D và ông Đ có bờ nhỏ ngăn cách. Do bà K sử dụng cả hai phần đất nên không còn bờ ranh.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Hồng N1 là ông Nguyễn Văn T tranh luận: Yêu cầu kháng cáo của bà K không có căn cứ. Ông Đ chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chuyển nhượng đất cho ông Q. Ông Q chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chuyển nhượng cho bà K. Trong khi, phần đất của ông D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cần được bảo vệ. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ y bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kiều . Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị K, Hội đồng xét xử nhận định:
- Phần đất tranh chấp có diện tích 330,9m² theo Trích đo hiện trạng ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Công ty TNHH Đ1 bao gồm: Phần đất diện tích 153,2m² được ký hiệu tại thửa số 5 và phần đất diện tích 177,7m² được ký hiệu tại thửa số 6, toạ lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
- Phần đất của ông D và bà K đều có nguồn gốc được ông Nguyễn Văn T2 cho ông D và ông Đ; ông T2 đã chết. Ông D và ông Đ thống nhất được ông T2 cho đất. Tuy nhiên, ông D trình bày ông D được ông T2 cho 4 công đất, ông Đ được cho 2 công; còn ông Đ cho rằng ông T2 cho ông D 3 công đất, cho ông Đ 2 công đất và phần mương, bờ. Trình bày trên của ông D và ông Đ đều không có văn bản chứng minh. Phần đất của ông D được cho thì ông D đã kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009 có diện tích 4.969,2m². Phần đất của ông Đ được cho thì ông Đ không đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chuyển nhượng cho ông Q. Ông Q cũng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đến ngày 02 tháng 02 năm 2020, ông Q chuyển nhượng bằng giấy tay cho ông Hứa Văn H1 (chồng bà K) không ghi diện tích cụ thể chỉ ghi diện tích 2 công 4 tầm. Như vậy, trình bày của ông D và ông Đ về diện tích đất được cho không chính xác.
- Xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Phần đất của ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào năm 1992 thuộc thửa 270 tờ bản đồ số 15. Ông D được cấp đổi lại giấy chứng nhận năm 2009 phần đất trên diện tích 4.969,2m² thuộc thửa số 473 tờ bản đồ số 5. Ông D, bà N1 sử dụng phần đất (chưa tính diện tích đất tranh chấp) có diện tích theo đo đạc thực tế 4.816m² ít hơn diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2009 là 153,2m². Như vậy, phần đất ông ông D, bà N1 đang sử dụng (chưa tính diện tích đất tranh chấp) ít hơn diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 153,2m². Phần đất của bà K nhận chuyển nhượng từ ông Q chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông Q chuyển nhượng đất cho bà K chỉ lập giấy tay, không có sự chứng kiến của những người giáp ranh đất là ông D, bà N1. Điều này được ông Q, bà K thừa nhận. Như vậy, bà K, ông Q không chứng minh được phần đất của ông Đ chuyển nhượng diện tích bao nhiêu.
- Xét quá trình sử dụng đất: Khi ông Đ và ông D sử dụng đất thì có ranh là bờ nhỏ. Nhưng ông Q, ông D đều cố đất cho bà K thời gian dài nên bà K canh tác luôn hai phần đất dẫn đến bờ ranh không còn. Tại Biên bản ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Toà án nhân dân tỉnh Cà mau, ông Dương Hồng X là người có đất giáp ranh với đất tranh chấp vào năm 2024 là Cán bộ Tư pháp – Hộ tịch xã K có hoà giải giữa ông D, bà N1 với ông Đoàn C2 cung cấp thông tin: Năm 2024, ông D với ông Đ tranh chấp phần đất hơn 300m², sau khi hoà giải động viên mỗi bên nhận ½ là hơn 150m². Vị trí đất tranh chấp trên cũng ngay vị trí ông D tranh chấp bà K. Như vậy, thực tế không xác định được ranh giới đất nên các đương sự tự thoả thuận ranh đất. Do đó, chỉ có thể căn cứ vào diện tích đất nhà nước công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D để giải quyết vụ án. Hơn nữa, tại phiên toà phúc thẩm, bà K thừa nhận chưa thanh toán đủ tiền vì còn phải xác định diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, ông D đang sử dụng phần đất theo đo đạc thực tế chưa tính diện tích đất tranh chấp là 4.816m² ít hơn diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 153,2m² nên buộc bà Nguyễn Thị K cùng chị Hứa Hồng T1, chị Hứa Như Ý và anh Hứa Đăng H có nghĩa vụ giao trả ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Hồng N1 diện tích đất tranh chấp 153,2m² (tại thửa 5 theo bản vẽ trích đo hiện trạng), tọa lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau). Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kiều . Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn phần đất diện tích 177,7m² được ký hiệu tại thửa số 6, toạ lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau). Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D phần đất 153,2m² (tại thửa 5 theo bản vẽ trích đo hiện trạng), tọa lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
- Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kiều . Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau. Việc sửa án sơ thẩm là do đương sự cung cấp và yêu cầu Toà án thu thập nhiều chứng cứ mới nên việc sửa án là khách quan.
- Chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 11.339.680 đồng (đã nộp xong). Bà Nguyễn Thị K phải chịu 9.776.000 đồng; ông D đã nộp số tiền trên nên bà K có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn D số tiền 9.776.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Giữ y như án sơ thẩm do ông D được miễn nộp án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị K không phải chịu. Bà K có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được nhận lại.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kiều .
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 20/2025/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D.
Buộc bà Nguyễn Thị K cùng chị Hứa Hồng T1, chị Hứa Như Ý và anh Hứa Đăng H có nghĩa vụ giao trả ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Hồng N1 phần đất (M3'M4M7M8') diện tích 153,2m² được ký hiệu tại thửa 5 theo Trích đo hiện trạng ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Công ty TNHH Đ1) – Đất tọa lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
- Không chấp nhận một phần yêu cầu kiện đòi bà Nguyễn Thị K cùng chị Hứa Hồng T1, chị Hứa Như Ý và anh Hứa Đăng H có nghĩa vụ giao trả ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Hồng N1 phần đất (M3M3’M8’M8) diện tích 177,7m² được ký hiệu tại thửa 6 theo Trích đo hiện trạng ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Công ty TNHH Đ1) – Đất tọa lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
- Đình chỉ xét xử đối yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn D đối với phần đất 107,6m² (tại thửa 1 theo bản vẽ trích đo hiện trạng) – Đất tọa lạc tại ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau (Nay là ấp B, xã K, tỉnh Cà Mau).
(Kèm theo Trích đo hiện trạng ngày 27/5/2025 của Công ty TNHH Đ1 thể hiện diện tích, vị trí, mốc giới cụ thể của các phần đất tranh chấp nêu trên).
- Chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn D phải chịu 11.339.680 đồng (đã nộp xong). Buộc bà Nguyễn Thị K có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Văn D số tiền 9.776.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền nói trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với khoản tiền nói trên tương ứng với thời gian chậm trả.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Văn D trường hợp được miễn dự nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.
- Buộc bà Nguyễn Thị K phải nộp án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng (chưa nộp).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị K không phải chịu án phí. Ngày 24 tháng 7 năm 2025, bà K có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0011432 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 472/2025/DS-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 472/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nay, ông yêu cầu Toà án buộc gia đình bà K trả cho vợ chồng ông diện tích đất theo đo đạc thực tế 330,9m2 – tại các thửa 5, 6 theo bản trích đo hiện trạng; Đối với phần đất tranh chấp 107,6m2 tại thửa đất số 1 theo bản trích đo hiện trạng xin rút lại yêu cầu. Chi phí tố tụng yêu cầu xem xét theo quy định.
