TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày: 30/10/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ và bà Nguyễn Thị Chung;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Thảo – Thư ký TAND khu vực 8 – Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 20/10/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1983;
HKTT: Khu Đ, phường Q, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố đẻ Nguyễn Đức T và mẹ đẻ Nguyễn Thị L1; bị cáo là con duy nhất; Có chồng nhưng đã ly hôn; con: 05 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2025; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giam ngày 30/6/2025 sau đó cùng ngày được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện tại ngoại - có mặt.
Người bị hại:
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990 – Vắng mặt;
HKTT: Khu phố V, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
- Ông Đặng Thanh A, sinh năm 1984 – Vắng mặt;
HKTT: Khu Q, phường H, tỉnh Bắc Ninh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1990 – Vắng mặt;
HKTT: Khu phố V, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị L là lao động tự do (làm nghề thầy cúng) thu nhập không ổn định. Do không có tiền tiêu sài nên L nảy sinh ý định đưa ra thông tin gian dối việc L có quan hệ quen biết với các có quan nhà nước có thể xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và L biết cúng lễ thánh sẽ chữa khỏi bệnh để chiếm đoạt tài sản của các bị hại lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Trong năm 2022 và năm 2025, với phương thức và thủ đoạn trên Nguyễn Thị L đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản tiền của các bị hại như sau:
1. Vụ thứ nhất:
Do gia đình anh Nguyễn Văn T1 bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 477, tờ bản đồ số 22, diện tích 513m² tại khu phố V, phường N, tỉnh Bắc Ninh. Đến khoảng cuối năm 2021, anh T1 đã gặp Nguyễn Thị L do anh Phan Văn Q, sinh năm 1986, HKTT: Khu phố M, phường B, tỉnh Bắc Ninh (giới thiệu) để nhờ L làm thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên thì L đồng ý. Để anh T1 tin tưởng L giới thiệu có mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Văn T3 - Nguyên Phó chủ tịch UBND thị xã Q, hiện là bí thư phường B (thực tế L không có mối quan hệ gì với ông T3, cũng không có khả năng xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Đến ngày 30/10/2021, Len báo chi phí xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 40.000.000 đồng, thì anh T1 đồng ý. Sau đó, L yêu cầu gia đình anh T1 cung cấp các giấy tờ tùy thân có liên quan để làm thủ tục xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lấy lý do đưa tiền cho các lãnh đạo cơ quan nhà nước hoặc để làm nhanh thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu gia đình anh T1 chuyển tiền. Do tin tưởng L nên từ ngày 15/02/2022 đến ngày 16/10/2022, anh T1 sử dụng tài khoản số 0351000582523 của ngân hàng TMCP N và chị Ngô Thị T2, sinh năm 1990 (là vợ anh T1) đã sử dụng tài khoản ngân hàng số [...] của Ngân hàng TMCP C chuyển khoản 12 lần với tổng số tiền là 73.870.000 đồng theo yêu cầu của L đến số tài khoản 0351001213121 của L tại ngân hàng TMCP N. Đến ngày 06/11/2022, khi thấy L không làm cấp lại được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên anh Q và anh T1 gọi điện thoại yêu cầu L trả tiền và hồ sơ cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình anh T1. Đến ngày 11/11/2022, L gửi trả gia đình anh T1 hồ sơ còn tiền thì không trả lại. Tổng số tiền 73.870.000 đồng chiếm đoạt được của gia đình anh Tân Len T4 sài cá nhân hết.
2. Vụ thứ hai:
Anh Đặng Thanh A bị teo cơ chân (là người khuyết tật nặng có xác nhận của UBND phường K (nay là phường H) và được chị ruột là chị Đặng Thị Q1, sinh năm 1993, trú tại: phường T, tỉnh Bắc Ninh giới thiệu Nguyễn Thị L có khả năng xem bói và làm lễ thánh cúng bái giúp anh A có thể khỏi bệnh. Đến ngày 13/02/2025, anh A nhờ L đến nhà xem bói thì L có yêu cầu gia đình chuẩn bị một bộ bài tú lơ khơ loại 52 quân để xem bói qua bài (thực chất Len không có khả năng xem bói). Sau khi xem bài xong L nói là có thể chữa được chân cho anh A, đồng thời yêu cầu anh A phải chuyển số tiền 2.400.000 đồng để làm lễ thánh xin chữa bệnh. Gia đình anh A đồng ý và đưa số 2.400.000 đồng cho L. Đến tối cùng ngày 13/02/2025, L gọi điện thoại yêu cầu anh A chuyển thêm số tiền 1.400.000 đồng với lý do thiếu tiền làm lễ tại đền B, tỉnh Lạng Sơn. A sử dụng số tài khoản 19035661284012 của ngân hàng TMCP K chuyển số tiền trên đến số tài khoản 0372293733 Ngân hàng TMCP Q2 của L. Sau đó từ ngày 14/02/2025 đến ngày 16/02/2025 theo yêu cầu của L chuyển tiền để lễ thánh chữa chân, anh A đã chuyển khoản 04 lần với tổng số tiền là 7.300.000 đồng. Sau khi nhận được tiền L không thực hiện việc lễ thánh và không chữa khỏi chân cho anh A. Tổng số tiền lừa chiếm đoạt của anh A 11.100.000₫ Len tiêu sài cá nhân hết.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B tiến hành sao kê các tài khoản ngân hàng trên của anh Nguyễn Văn T1, chị Ngô Thị T2, anh Đặng Thanh A và Nguyễn Thị L xác định có nội dung nhận chuyển tiền từ các tài khoản của anh T1, chị T2 và anh A chuyển đến tài khoản của bị can L.
Ngày 21/02/2025, Cơ quan điều tra có công văn gửi Chi nhánh văn phòng Đ đề nghị cung cấp thông tin. Ngày 03/3/2025, Chi nhánh văn phòng Đ có công văn số 53 xác định: Chi nhánh văn phòng đất đai không có cán bộ nào tên Nguyễn Thị L và không tiếp nhận được hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 477, tờ bản đồ số 22, diện tích 513 m² tại khu V, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh mang tên hộ ông Nguyễn Văn T5.
Ngày 19/02/2025, anh Phan Văn Q giao nộp cho cơ quan CSĐT công an thị xã Q 01 bản ảnh bằng giấy A4 thể hiện rõ nội dung tin nhắn zalo của L với anh Q về việc L lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh T1. Ngày 26/4/2025, anh Đặng Thanh A giao nộp 01 bản ảnh tin nhắn zalo của anh A và L được in ra giấy khổ A4 đánh số từ 01 đến 32 gồm 32 tờ thể hiện nội dung Len lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh A1. Đối với các tài liệu do anh Q và anh A giao nộp trên trên là chứng cứ của vụ án nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn T1 và anh Đặng Thanh A1 yêu cầu L phải hoàn trả toàn bộ số tiền đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản là 73.870.000 đồng của anh T1 và số tiền 11.100.000 đồng của anh A.
Bản cáo trạng số: 63/CT-VKSKV8 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L giao nộp giấy xác nhận của UBND phường Q, xác nhận bị cáo là hộ gia đình cận nghèo năm 2025, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và thừa nhận, cáo trạng của VKSND khu vực 8 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị L đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, k khoản 1, Điều 52, Điều 48, Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 584, 589 và 590 BLDS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giam 01 ngày là ngày 30/6/2025. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 73.870.000 đồng và bồi thường cho anh Đặng Thanh A số tiền 11.100.000 đồng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo nhận tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, cán bộ điều tra, viện kiểm sát, kiểm sát viên đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật, không bị khiếu nại nên xác định hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: sao kê tài khoản ngân hàng, bản ảnh tin nhắn Zalo, công văn xác minh của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị L do không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, đã nảy sinh ý định gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Bị cáo đã đưa ra các thông tin việc L có quan hệ quen biết với những Lãnh đạo có thể làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khoảng thời gian từ ngày 15/02/2022 đến ngày 16/10/2022, L đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 73.870.000 đồng của anh Nguyễn Văn T1. Cũng với ý định gian dối để chiếm đoạt tài sản, Len nhận có khả năng xem bói và cũng lễ Thánh chữa được bệnh, trong khoảng thời gian từ ngày 13/20/2025 đến ngày 16/02/2025, L đã chiếm đoạt số tiền 11.100.000 đồng của anh Đặng Thanh A. Như vậy, Nguyễn Thị L đã thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tổng tài sản chiếm đoạt được là 84.970.000 đồng. Hiện tài sản chưa được thu hồi. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, làm giảm lòng tin của người dân vào các cơ quan, tổ chức nhà nước, đồng thời thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hành phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và cũng để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội và thực hiện hành vi phạm tội với anh Đặng Thanh A là người khuyết tật nặng có xác nhận của UBND phường K (nay là phường H) nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và tình tiết “phạm tội với người khuyết tật nặng” quy định tại điểm g, k khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên toà, đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Thời điểm thực hiện phạm tội bị cáo đang mang thai cháu Nguyễn Ngọc L2, sinh ngày 06/6/2025 nên được hưởng quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên trong thời gian ngắn đã liên tiếp thực hiện nhiều hành vi lừa đảo, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có không có tài sản và thu nhập, thuộc hộ cận nghèo nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Nguyễn Văn T1 và Đặng Thanh A yêu cầu bị cáo hoàn trả toàn bộ số tiền đã bị chiếm đoạt. Xét thấy yêu cầu này có căn cứ, cần buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 73.870.000 đồng và bồi thường cho anh Đặng Thanh A số tiền 11.100.000 đồng.
[7] Đối với anh Phan Văn Q và chị Đặng Thị Q1 là người đã giới thiệu bị cáo L cho anh T1 và anh A. Quá trình điều tra anh Q và chị Q1 đều không biết L đưa ra các thông tin các thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên cơ quan CSĐT Công an tỉnh B không xử lý anh Q và chị Q1 là đúng pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và DSST theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do bị cáo có xác nhận của UBND phường Q, tỉnh Bắc Ninh thuộc hộ gia đình cận nghèo của địa phương nên cần miễn án phí HSST và án phí DSST cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, k khoản 1, Điều 52, Điều 48, Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 BLTTHS; Điều 584, 589 và 590 BLDS năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt:
- - Bị cáo Nguyễn Thị L 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ 01 ngày đã tạm giam là ngày 30/6/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 73.870.000 đồng và bồi thường cho anh Đặng Thanh A số tiền 11.100.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về vật chứng: Các tài liệu gồm bản ảnh tin nhắn Zalo, sao kê tài khoản ngân hàng là chứng cứ của vụ án, được tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
- Về án phí: Miễn án phí HSST và án phí DSST cho bị cáo Nguyễn Thị Len
- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hoài Phương |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
