|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 410/2025/DS-PT Ngày: 19-12-2025. V/v: tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Bích Thảo |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Ngọc Bình |
| Ông Dư Thành Trung |
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thuỳ Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 400/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”,
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2025/DS - ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng bị kháng cáo,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 564/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 405/2025/QĐ-PT ngày 05/12/2025, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 46/2025/QĐTGPT ngày 16/12/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Bị đơn: Bà Đinh Thị L, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Số E, thôn S, xã Đ, tỉnh Lâm. Có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Đinh Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Ngày 05/4/2022 âm lịch (tức ngày 05/5/2022 dương lịch), bà có cho bà L vay số tiền là 20.000.000đ. Số tiền này bà L hẹn đến ngày 05/7/2022 âm lịch (tức ngày 02/8/2022 dương lịch) sẽ trả đầy đủ số tiền này cho bà.
Ngày 03/5/2023 âm lịch (tức ngày 20/6/2023 dương lịch), bà có cho bà L vay số tiền là 100.000.000đ. Số tiền này bà L hẹn đến ngày 03/6/2023 âm lịch (tức ngày 20/7/2023 dương lịch) sẽ trả đầy đủ số tiền này.
Ngày 12/12/2023 âm lịch (tức ngày 22/01/2024 dương lịch), bà có cho bà L vay số tiền là 50.000.000đ. Số tiền này bà L hẹn đến ngày 25/12/2023 âm lịch (tức ngày 04/02/2024 dương lịch) sẽ trả đầy đủ số tiền này.
Tuy nhiên, khi đến hạn trả số tiền trên cho bà nhưng bà L không trả. Nay, bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà L phải trả cho bà số tiền nợ gốc là 170.000.000đ và tiền lãi trên số nợ gốc tính từ ngày vay từng khoản theo mức lãi suất 20%/1 năm (tương ứng với 1,66%/1 tháng) đến nay, chi tiết cụ thể như sau:
Số tiền lãi của khoản vay 20.000.000đ từ ngày 05/4/2022 âm lịch tương đương ngày 05/5/2022 dương lịch đến nay là 40 tháng 14 ngày: (20.000.000₫ x 1,66%/ tháng x 40 tháng) + (20.000.000₫ x 1,66%/ tháng/ 30 ngày x 14 ngày) = 13.435.000₫.
Số tiền lãi của khoản vay 100.000.000đ từ ngày 03/5/2023 âm lịch tương đương ngày 20/6/2023 dương lịch đến nay là 27 tháng 03 ngày: (100.000.000₫ x 1,66%/ tháng x 27 tháng) + (100.000.000₫ x 1,66%/ tháng/ 30 ngày x 03 ngày) = 61.586.000₫.
Số tiền lãi của khoản vay 50.000.000đ từ ngày 12/12/2023 âm lịch tương đương ngày 22/01/2024 dương lịch đến nay là 20 tháng 01 ngày: (50.000.000₫ x 1,66%/ tháng x 20 tháng) + (50.000.000₫ x 1,66%/ tháng/ 30 ngày x 01 ngày) = 16.628.000₫.
Tổng cộng tiền lãi của 03 khoản vay đến nay là 91.649.000đ.
Cộng chung cả gốc và lãi là: 261.649.000đ.
Theo nội dung văn bản ghi ý kiến và quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đinh Thị L trình bày:
Bà có vay bà H tổng số tiền gốc 03 lần là 170.000.000đ như bà H trình bày là đúng, cụ thể: Ngày 05/4/2022 âm lịch (tức ngày 05/5/2022 dương lịch), bà vay bà H số tiền là 20.000.000đ, hẹn đến ngày 05/7/2022 âm lịch (tức ngày 02/8/2022 dương lịch) sẽ trả hết nợ.
Ngày 03/5/2023 âm lịch (tức ngày 20/6/2023 dương lịch), bà có vay của bà H số tiền là 100.000.000đ, hẹn đến ngày 03/6/2023 âm lịch (tức ngày 20/7/2023 dương lịch) sẽ trả hết nợ.
Ngày 12/12/2023 âm lịch (tức ngày 22/01/2024 dương lịch), bà có vay của bà H là 50.000.000đ, hẹn đến ngày 25/12/2023 âm lịch (tức ngày 04/02/2024 dương lịch) sẽ trả hết nợ.
Quá trình vay tiền của bà H thì bà đã trả nợ như sau:
Đối với số tiền vay 20.000.000đ vào ngày 05/5/2022 bà đã trả tổng cộng gốc và lãi là 63.000.000đ, cụ thể: ngày 31/12/2022 chuyển khoản trả 12.600.000đ; ngày 13/01/2023 chuyển khoản trả 3.000.000đ; ngày 17/7/2023 chuyển khoản trả 5.000.000đ; ngày 07/9/2023 chuyển khoản trả 5.000.000đ; ngày 11/9/2023 chuyển khoản trả 800.000đ; ngày 05/10/2023 chuyển khoản trả 4.000.000đ; ngày 10/01/2024 chuyển khoản trả 5.700.000đ; ngày 10/5/2024 chuyển khoản trả 7.500.000đ; ngày 15/5/2024 trả tiền mặt 20.000.000đ.
Đối với khoản vay 100.000.000đ ngày 20/6/2023 thì bà đã trả cho bà L tổng cộng 126.300.000đ, cụ thể: ngày 07/8/2023 chuyển khoản trả 5.000.000đ; ngày 10/01/2023 chuyển khoản trả 79.300.000đ; ngày 12/01/2023 chuyển khoản trả 9.000.000đ; ngày 30/11/2023 chuyển khoản trả 13.000.000đ; ngày 21/01/2024 chuyển khoản trả 20.000.000đ.
Đối với khoản vay 50.000.000₫ ngày 22/01/2024 thì bà đã trả cho bà L tổng cộng số tiền là 36.400.000đ, cụ thể: ngày 06/6/2024 chuyển khoản trả 14.000.000đ; ngày 11/6/2024 chuyển khoản trả 2.400.000đ; ngày 22/6/2024 chuyển khoản trả 10.000.000đ; ngày 22/7/2024 chuyển khoản trả 1.000.000đ; ngày 16/8/2024 chuyển khoản trả 1.000.000đ; ngày 10/9/2024 trả tiền mặt 1.000.000đ; ngày 19/9/2024 chuyển khoản trả 5.000.000đ; ngày 10/11/2024 chuyển khoản trả 1.000.000đ; ngày 10/12/2024 chuyển khoản trả 1.000.000đ.
Trong các lần trả nợ trên thì có ngày 10/01/2023 bà chuyển khoản cho bà H một lần 85.000.000đ, trong đó tách trả nợ khoản vay 20.000.000₫ là 5.700.000đ; còn 79.300.000đ bà trả vào khoản vay 100.000.000đ.
Như vậy, nếu tính theo lãi vay bà H xác định là 1,66%/01 tháng đối với từng khoản vay thì tiền vay gốc 20.000.000đ tính từ ngày 05/5/2022 đến ngày 15/5/2024 là 24 tháng 10 ngày tương ứng 8.068.000₫ cộng tiền vay gốc 20.000.000đ, tổng là 28.068.000đ nhưng bà đã trả cho bà H tổng 63.600.000₫ nên còn dư là 35.532.000₫ (Do khi vay bà H tính lãi 3.000₫/1.000.000đ/1 ngày nên bà trả theo lãi thỏa thuận và tiền lãi bà H tính là 43.600.000₫).
Tiền lãi tính 1,66%/01 tháng đối với khoản vay 100.000.000₫ từ ngày 20/6/2023 đến ngày 25/4/2025 là 22 tháng 05 ngày tương ứng số tiền lãi là 36.795.000đ. Bà đã trả cho bà H 126.300.000đ nên sau khi trừ tiền gốc và lãi phải trả thì bà còn nợ bà H số tiền 10.495.000đ.
Tiền lãi tính 1,66%/01 tháng đối với khoản vay 50.000.000₫ từ ngày 22/01/2024 đến ngày 25/4/2025 là 15 tháng 03 ngày tương ứng số tiền lãi là 12.504.000đ. Bà đã trả cho bà H 36.400.000₫ nên bà trả tiền lãi là 12.504.000₫ và còn lại trả tiền gốc 23.896.000đ nên tính đến ngày 25/4/2025 thì khoản vay này bà còn nợ bà H số tiền gốc là 26.104.000đ.
Cấn trừ các khoản bà vay và đã trả cho bà H thì tính đến ngày 25/4/2025 bà chỉ còn nợ bà H 1.067.000đ tiền gốc (35.532.000₫ - 10.495.000₫ - 26.104.000đ). Do vậy, bà H khởi kiện thì bà đồng ý trả cho bà H số tiền vay còn nợ là 1.067.000₫.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2025/DS - ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với bà Đinh Thị L
Buộc bà Đinh Thị L phải có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị H tổng số tiền nợ vay là 236.349.000đ (hai trăm ba mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn đồng), trong đó số tiền nợ gốc là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi là 66.349.000₫ (Sáu mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi chín ngàn đồng).
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H về việc yêu cầu bà Đinh Thị L phải trả số tiền lãi là 25.300.000đ (Hai mươi lăm triệu ba trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 07/10/2025 và 15/10/2025, bị đơn bà Nguyễn Thị L1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị chấp nhận kháng cáo; Nguyên đơn không kháng cáo đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Đinh Thị L nộp trong thời hạn luật định, bà L là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
- [2]. Xét kháng cáo của bà Đinh Thị L nộp đến Toà án trong hạn luật định; trình tự, thủ tục kháng cáo được thực hiện theo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273, 278, 279, 280 Bộ luật Tốdân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [3]. Xét kháng cáo bị đơn bà Đinh Thị L thấy rằng:
- [3.1]. Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận bị đơn có vay của nguyên đơn tổng số tiền 170.000.000 đồng thể hiện tại các giấy vay tiền ngày 05/4/2022 âm lịch (ngày 05/5/2022 dương lịch); ngày 03/5/2023 âm lịch (ngày 20/6/2023 dương lịch) và ngày 12/12/2023 âm lịch (22/01/2024 dương lịch). Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì các đương sự thừa nhận có việc vay mượn với nhau nên đây là những tình tiết không phải chứng minh.
- [3.2]. Giữa nguyên đơn và bị đơn nhiều lần thực hiện giao dịch cho vay mượn tiền trước ngày 05/5/2022. Trong thời gian từ ngày 05/5/2022 đến ngày 21/01/2024 ngoài 03 lần cho vay theo các giấy vay mà hiện nay nguyên đơn khởi kiện thì còn 02 lần cho vay vào ngày 19/9/2023 (nhằm ngày 05/8/2023 âm lịch) số tiền 80.000.000đ và ngày 26/6/2023 số tiền 100.000.000đ, hai khoản vay này bà H không khởi kiện nhưng có liên quan đến số tiền mà bà L chuyển khoản trả tiền lãi và tiền gốc cho nguyên đơn.
Xét các khoản vay và phương thức trả nợ thì: Khi vay tiền giữa hai bên có viết giấy vay nhưng không có thoả thuận phương thức trả nợ, khi chuyển khoản trả nợ cũng không thể hiện rõ trả tiền gốc hay tiền lãi, trả cho khoản vay nào. Đối với trả tiền mặt thì bị đơn không có chứng cứ chứng minh, còn nguyên đơn không thừa nhận. Tuy nhiên, cả bà H và bà L đều thừa nhận bà L đã trả cho bà H tổng số tiền 205.300.000đ.
Tại bút lục 82 thể hiện ngày 10/01/2024 bà L chuyển khoản cho bà H số tiền 85.000.000đ, không thể hiện trả cho khoản nào; theo bà L cho rằng trả 5.700.000₫ cho khoản vay 20.000.000đ ngày 05/5/2022 và 79.300.000đ cho khoản vay 100.000.000đ ngày 20/6/2023; phía bà H thì cho rằng số tiền này bà L trả cho các khoản vay ngày 05/8/2023 âm lịch. Đối chiếu với giấy mượn tiền ngày 05/8/2023 âm lịch (là ngày 19/9/2023 dương lịch) bà H thừa nhận có sửa lại ngày tháng ở cuối góc phải của giấy về ngày trả tiền, thực tế là ngày 29/11/2023 âm lịch (tức ngày 10/01/2024 dương lịch) là phù hợp với chứng từ bà L chuyển khoản trả cho bà H. Như vậy, khoản vay ngày 05/8/2025 âm lịch đã được các bên thanh toán xong và gạch sổ. Số tiền 85.000.000đ sẽ được trừ vào tổng số tiền bà L trả cho bà H nêu trên.
Ngoài ra, tại bút lục 119 nguyên đơn xuất trình thể hiện “26/06/2023 L mượn 100 triệu 26/6 dương”. Tại phiên toà phúc thẩm bị đơn không thừa nhận có vay mượn số tiền 100.000.000đ này, cho rằng nguyên đơn giữ giấy nên ghi thêm vào vì góc cuối của BL 119 sau khi cấn trừ các khoản nợ bị đơn ghi “còn 37 triệu, ba bảy triệu. Ngày 25 tết chốt thanh toán và ký tên Đinh Thị L”. Còn bà H bà cho rằng giữa các bên ngày 26/6/2023 có cho vay mượn số tiền 100.000.000đ, có viết giấy vay nhưng sau đó bà H xé giấy vay và ghi vào bên phải tờ giấy để nhớ, tiếp giáp với dòng chữ “còn 37 triệu...”. Xét khoản vay này bà H không khởi kiện nên không xem xét.
- [3.3] Đối với tiền lãi thì thấy rằng: Tại các giấy vay tiền không thể hiện lãi suất, tuy nhiên cả hai bên đều thừa nhận việc cho vay nói trên có lãi, chỉ mâu thuẫn mức lãi suất đối với số tiền đã vay. Bị đơn cho rằng nguyên đơn tính lãi 3.000đ/ triệu/1 ngày nhưng nguyên đơn không thừa nhận. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất là 20%/01 năm (tương đương 1,66%/01 tháng) theo yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định pháp luật, cụ thể tiền lãi được tính như sau:
- Số tiền lãi của khoản vay 20.000.000đ (từ 05/5/2022 đến ngày 23/9/2025) = 20.000.000₫ x 1,66%/ tháng x 40 tháng 14 ngày = 13.435.000đ (đã làm tròn số);
- Đối với số tiền lãi của khoản vay 100.000.000đ (từ ngày 20/6/2023 đến ngày 23/9/2025) = 100.000.000₫ x 1,66%/ tháng x 27 tháng 03 ngày = 44.986.000đ nhưng cấp sơ thẩm tính 61.586.000đ là sai sót, cần điều chỉnh lại cho phù hợp.
- Số tiền lãi của khoản vay 50.000.000đ (từ ngày 22/01/2024 đến ngày 23/9/2025) = 50.000.000₫ x 1,66%/ tháng x 20 tháng 01 ngày = 16.628.000đ (đã làm tròn số).
Tổng cộng là 75.049.000đ.
- [3.4]. Về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Quá trình giải quyết vụ án bị đơn cho rằng đã nhiều lần trả nợ cho nguyên đơn cả gốc và lãi nhưng không xác định được trả vào khoản vay nào, trả gốc hay lãi như đã nhận định. Như vậy, trong số tiền 205.300.000₫ bị đơn đã chuyển khoản - 85.000.000₫ (khoản vay ngày 05/8/2023 âm lịch) = 120.300.000đ.
Số tiền 120.300.000đ - tiền lãi 75.049.000đ = 45.251.000đ, số tiền còn lại này sẽ được trừ vào tiền gốc bị đơn còn nợ 170.000.000 - 45.251.000đ = 124.749.000₫.
- [4]. Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.
- [5]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
- [6]. Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn được chấp nhận nên bà L không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm. Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương đương với số tiền không được chấp nhận. Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương đương với số tiền phải trả cho bà H. Tuy nhiên, bà H và bà L đều thuộc trường hợp người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền án phí nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà H và bà L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đinh Thị L. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2025/DS - ST ngày 23 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với bị đơn bà Đinh Thị L.
Buộc bị đơn bà Đinh Thị L trả cho bà Lê Thị H số tiền gốc 124.749.000₫ (một trăm hai mươi bốn triệu bảy trăm bốn mươi chín ngàn đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H về việc yêu cầu bà Đinh Thị L phải trả số tiền gốc 45.251.000đ và 91.649.000đ tiền lãi.
- Về án phí:
- + Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Thị H và bà Đinh Thị L.
- + Về án phí Dân sự phúc thẩm: Bà Đinh Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thảo |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
|
Dư Thành Trung |
Đặng Ngọc Bình |
Bản án số 410/2025/DS-PT ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 410/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Sửa bản án sơ thẩm