Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 392/2025/DS-PT

Ngày: 16 – 12 – 2025

"V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thái Lan.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hồng và bà Lê Thị Thanh Huyền

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Khắc Anh – Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu T – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 309/2025/TLPT-DS, ngày 06/11/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do có kháng cáo của bị đơn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 371/2025/QĐ-PT ngày 21/10/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 340/2025/QĐ-PT ngày 05/11/2025; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1965 và bà Trần Thị Bạch L, sinh năm 1967; Địa chỉ: A H, TDP Đạt H, phường B, tỉnh Đắk Lắk. (Địa chỉ cũ: 168 H, TDP Đạt H, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk). Đều vắng mặt.

- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Hồng T1, sinh năm 1988; Địa chỉ: TDP A, xã P, tỉnh Đắk Lắk. (Địa chỉ cũ: TDP 10, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk). Có mặt.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1961; Địa chỉ: Số D L, TDP C, Phường B, tỉnh Đắk Lắk. (Địa chỉ cũ: Số D L, TDP C, phường A, Thị xã B, tỉnh Đắk Lắk). Vắng mặt.

- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lê Thanh K, sinh năm 1990; Địa chỉ: G Y, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và quá trình tham gia tố tụng,

người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Do mối quan hệ quen biết nên vợ chồng ông Lưu Quang T2 bà Phạm Thị L1 có vay tiền của vợ chồng ông B, bà L để làm ăn, cụ thể các khoản vay từng lần như sau:

Ngày 10/06/2021 (Âm lịch) tức ngày 19/07/2021 (Dương lịch), vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), hẹn đến ngày 10/07/2021 (Am lịch) tức ngày 19/08/2021 (Dương lịch) trả.

Ngày 02/07/2021 (Âm lịch) tức ngày 09/08/2021 (Dương lịch) vay số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng), đến ngày 02/08/2021 (Âm lịch). tức ngày 08/09/2021 (Dương lịch) trả.

Ngày 11/07/2021 (Âm lịch) tức ngày 18/08/2021 (Dương lịch) vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), hẹn đến ngày 11/08/2021 (Âm lịch) tức ngày 17/09/2021 (Dương lịch) trả.

Ngày 19/07/2021 (Am lịch) tức ngày 26/08/2021 (Dương lịch) vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), hẹn đến ngày 19/08/2021 (Âm lịch) tức ngày 25/09/2021 (Dương lịch) trả.

Hai bên có viết giấy vay tiền và thỏa thuận lãi suất 10%/năm tính từ ngày vay. Tuy nhiên đến nay đã hơn 03 năm ông T2, bà L1 không thanh toán số tiền vay cho ông B, bà L.

Sau đó ông T2 bà L1 không trả nợ đúng hạn nên nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc một mình cá nhân bà Phạm Thị L1 có trách nhiệm phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc không yêu cầu trả lãi và không buộc ông Lưu Quang T2 phải liên đới cùng bà Phạm Thị L1 trả nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị L1 trình bày có nội dung:

Ngày 10/6/2021 (âm lịch), bà có vay của ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Bạch L số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), hẹn đến ngày 10/7/2021 (âm lịch) trả.

Ngày 02/7/2021 (âm lịch), bà có vay của ông B và bà Lý S tiền350.000.000 đồng, hẹn đến ngày 02/8/2021 âm lịch trả.

Ngày 11/7/2021 âm lịch, bà có vay của ông B và bà Lý S tiền300.000.000 đồng, hẹn đến ngày 11/8/2021 âm lịch trả.

Ngày 19/7/2021 âm lịch, bà có vay của ông B và bà Lý S tiền300.000.000 đồng, hẹn đến ngày 19/8/2021 âm lịch trả.

Mục đích vay tiền để chi tiêu cá nhân, không liên quan gì đến ông Lưu Quang T2 - chồng bà. Trong các giấy vay tiền đều là chữ ký, chữ viết của bà, bà thừa nhận những chữ ký, chữ viết trong giấy vay tiền mà nguyên đơn giao nộp là của bà, dưới mục người vay tiền là do bà ký và viết ra. Do đó, bà không đề nghị và không yêu cầu giám định các chữ ký, chữ viết của bà trong toàn bộ các tờ giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp.

Quá trình vay, bà đã trả hết nợ cho ông B và bà L, tuy nhiên khi trả tiền thì bà trả

bằng tiền mặt, đưa trực tiếp cho ông B và bà L, không có người chứng kiến, cũng không lập giấy tờ, văn bản gì. Do đó, bà không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc đã trả các khoản tiền đã vay cho ông B và bà L. Khi vay, bà không thế chấp hay cầm cố tài sản gì cho nguyên đơn. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà không đồng ý.

Tại Bản án sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày: 10 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đắk Lắk) đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Bạch L.

Buộc bị đơn bà Phạm Thị L1 phải trả cho nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Bạch L số tiền gốc là 1.450.000.000 (một tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng). Nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Bạch L không yêu cầu tính lãi suất đối với số nợ gốc trên.

Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk) cho đến khi thi hành án xong.

Ngoài ra bản án sơ thẩm có quyết định về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/7/2025, bị đơn bà Phạm Thị L1 kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không tranh luận gì thêm

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Cấp sơ thẩm giải quyết vụ án thiếu người tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không tiến hành giao quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

Quá trình tranh luận, các đương sự giữ nguyên ý kiến, không tranh luận gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • + Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, thư ký và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
  • + Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm

2025 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đắk Lắk).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn kháng cáo quá hạn được chấp nhận và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được giải quyết và xét xử theo trình tự phúc thẩm, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
  2. [2] Xét nội dung đơn kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
    • [2.1] Về số tiền nợ: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, tại các biên bản lấy lời khai của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B, bà Trần Thị Bạch L và Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 31/3/2025 đối với bị đơn bà Phạm Thị L1, đều thống nhất nội dung như sau:

Ngày 10/06/2021 (Âm lịch), nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), hẹn đến ngày 10/07/2021 (Âm lịch); Ngày 02/07/2021 (Âm lịch) nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng), đến ngày 02/08/2021 (Âm lịch) trả; Ngày 11/07/2021 (Âm lịch) nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), hẹn đến ngày 11/08/2021 (Âm lịch) trả; Ngày 19/07/2021 (Âm lịch) nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), hẹn đến ngày 19/08/2021 (Âm lịch) trả.

Ngoài ra, bị đơn thừa nhận chữ ký, chữ viết trong các giấy vay tiền mà nguyên đơn giao nộp cho Tòa án là của bị đơn nên không đề nghị giám định chữ ký chữ viết. Do đó, các tình tiết về sự việc vay tiền mà nguyên đơn cung cấp cho Tòa án đều đã được bị đơn thừa nhận nên không cần phải chứng minh. Vì vậy, giao dịch vay tài sản theo các Giấy vay tiền đề ngày 10/6/2021 (Âm lịch), ngày 2/7/2021 (Âm lịch), ngày 11/7/2021 (Âm lịch), ngày 19/7/2021 (Âm lịch), giữa nguyên đơn ông vợ chồng ông Nguyễn Thanh B bà Trần Thị Bạch L với bị đơn bà Phạm Thị L1 là có thật, là sự tự nguyện, đúng ý chí của các bên, nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật tại Điều 117, 118, 119 và 463 Bộ luật dân sự nên phát sinh hiệu lực, buộc các bên phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận.

Nguyên đơn cho rằng đến hạn trả nợ nhưng bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ không trả nợ đúng như thỏa thuận cho nguyên đơn. Còn bị đơn không thừa nhận và cho rằng đã trả nợ hết cho nguyên đơn bằng tiền mặt, không lập giấy tờ gì cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu chứng cứ gì khác. Xét thấy, để khởi kiện nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ là các giấy vay tiền (tổng số tiền gốc là 1.450.000.000 đồng) có chữ ký, chữ viết của bị đơn và đã được bị đơn thừa nhận là đúng. Việc bị đơn cho rằng đã trả nợ hết các khoản vay cho nguyên đơn nhưng không có tài liệu chứng cứ để chứng minh, hơn nữa nguyên đơn cũng không thừa nhận sự

việc này. Do đó, lời trình bày của bị đơn về việc đã trả hết nợ cho nguyên đơn là không có căn cứ chứng minh, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với nguyên đơn nên bản án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền đã vay 1.450.000.000 đồng là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn không cung cấp thêm tình tiết, tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình về số tiền nợ đã trả. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ nên cần giữ nguyên.

  • [2.2] Về Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk): Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ quy định tại khoản 11 Điều 114 và Điều 126 BLTTDS đối với một phần thửa đất có diện tích 5980m² có giới cận: Đông giáp thửa đất 92 của ông Nguyễn Đức B1 cạnh dài 60m, Tây giáp đường đi( đường bê tông ) cạnh dài 60m, Nam giáp thửa đất số 26 của ông Trần B2 cạnh dài 100m, Bắc giáp phần đất còn lại của thửa đất 103 cạnh dài 97m, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 00305839 đứng tên ông Lưu Quang T2, bà Phạm Thị L1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K cấp ngày 01/4/2025 diện tích đất trồng cây lâu năm 14849,7m² thuộc thửa đất số 103, tờ bản đồ 23 tại xã C, huyện K, Đắk Lắk.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 19 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật tố tụng dân sự quy định “ Phần tuyên về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong bản án không bị kháng cáo, kháng nghị ” do đó việc kháng cáo của của bị đơn bà Phạm Thị L1 không thuộc phạm vi xét xử của Hội đồng xét xử phúc thẩm. Việc yêu cầu xem xét hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, người liên quan đến biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện theo quy định tại Chương VIII của Bộ luật tố tụng dân sự.

  • [3]. Về án phí: Kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị L1 không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. [1]. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Lệ . Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 22/2025/DS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đắk Lắk).

  1. [2]. Căn cứ các Điều 117, 118, 119, 463 và 466 Bộ luật dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • [2.1] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Bạch L.

Buộc bị đơn bà Phạm Thị L1 phải trả cho nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Bạch L số tiền gốc là 1.450.000.000 (Một tỷ bốn trăm năm mươi triệu đồng). Nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Bạch L không yêu cầu tính lãi suất đối với số nợ gốc trên.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành ) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT ngày 25/4/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk) cho đến khi thi hành án xong.

  • [2.2] Về án phí:
  • - Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Phạm Thị L1 phải chịu 55.500.000 đồng( Năm mươi lăm triệu, năm trăm ngàn đồng ) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Bạch L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.775.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0004031 ngày 30/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ (nay là Thi hành án Khu vực 8 – Đắk Lắk).
  • - Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Phạm Thị L1 phải chịu 300.000 đồng( Ba trăm ngàn đồng ) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ số tiền 300.000 đồng( Ba trăm ngàn đồng )đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000301 ngày 21/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND khu vực 8;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk (KV 8);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ VA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thái Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 392/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 392/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger