TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÂM ĐỒNG Bản án số: 37/2025/DS-ST Ngày 18-12-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tư và ông Nguyễn Xuân Thùy
- Thư ký phiên tòa: bà Trương Thị Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: bà Lê Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 06/2025/TLST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2025 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (V1); địa chỉ: Tầng A và tầng B tòa nhà S, phường S, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Q. Người đại diện theo ủy quyền: bà Trần Thị Thu H, chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ ngân hàng B. Người được ủy quyền lại: ông Từ Thế Anh H1, cán bộ Ngân hàng thương mại cổ phần Q; địa chỉ: Số B N, phường B, tỉnh Đắk Lắk - có mặt.
2. Bị đơn: ông Phạm Minh H2; địa chỉ: Thôn T, xã Q, tỉnh Lâm Đồng – đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Q (V1) – V1 đã ký với ông Phạm Minh H2 Hợp đồng tín dụng số 4888689.23 ngày 30/12/2023 với số tiền giải ngân: 790.000.000 đồng; mục đích vay mua xe ô tô mới tiêu dùng nhãn hiệu MAZDA PEUGEOT, BKS: 48A-197.29 theo HĐMB số 266/2023PEUGEOT ngày 15/12/2023; thời hạn vay 96 tháng; lãi suất tại thời điểm vay 08%/năm (áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng, hết thời hạn nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần; lãi quá hạn bằng 150 % lãi trong hạn; mỗi tháng trả 8.230.000 đồng gốc vào ngày 15. Kỳ trả gốc đầu tiên vào ngày 15/02/2024, kỳ cuối trả hết; trả nợ lãi: hàng tháng, vào ngày 15; kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 15/02/2024; V1 đã giải ngân cho ông Phạm Minh H2 số tiền 790.000.000 đồng.
Đồng thời ngày 10/01/2024, V1 đồng ý cấp Thẻ tín dụng cho ông H2 chi số thẻ 5268879907860509; hạn mức thẻ: 79.000.000 đồng; Lãi suất, phí: theo bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông H2 đã thanh toán cho V1 số tiền là 94.957.637 đồng (trong đó gốc là 68.150.000 đồng, lãi là 26.807.637 đồng). Từ ngày 15/07/2024, ông H2 đã vi phạm nội dung thỏa thuận, khoản vay đã quá hạn thanh toán và đang xếp loại nợ nhóm 3 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của Ngân hàng N.
Ngân hàng khởi kiện buộc ông Phạm Minh H2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền tạm tính đến ngày nộp đơn 12/11/2024 là 862.121.343.
Tính đến ngày xét xử 18/12/2025 tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu là 975.318.884 đồng (trong đó số nợ gốc là 794.862.570 đồng; lãi trong hạn là 114.712.648 đồng; lãi quá hạn 65.743.666 đồng). Cụ thể từng hợp đồng: Hợp đồng tín dụng số 4888689.23 là 872.058.176 đồng (trong đó tiền gốc 721.850.000 đồng, lãi trong hạn 84.464.510 đồng, lãi quá hạn 65.743.666 đồng); đối với Hợp đồng mở thẻ tín dụng số 5268879907860509: 103.260.708 đồng (trong đó tiền gốc 73.012.570 đồng; lãi 30.248.138 đồng).
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Minh H2 trình bày: thừa nhận có ký 02 hợp đồng với ngân hàng để có tiền mua xe và mở thẻ; yêu cầu của ngân hàng là đúng, đồng ý trả số tiền gốc và lãi như Ngân hàng yêu cầu và đề nghị nguyên đơn cho bị đơn trả tiền trong 04 năm vì hiện tại rất khó khăn; đồng thời đề nghị giải quyết vắng mặt (BL 80-84).
Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, Tòa án đã tiến hành các thủ tục theo đúng trình tự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 18/12/2025 là 975.318.884 đồng (trong đó số nợ gốc là 794.862.570 đồng; lãi trong hạn là 114.712.648 đồng; lãi quá hạn 65.743.666 đồng) và tiếp tục tính lãi theo các Hợp đồng tín dụng đến khi trả nợ xong nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn là tổ chức khởi kiện cá nhân phải trả tiền theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"; bị đơn ông Phạm Minh H2 có nơi cư trú tại thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Đăk Nông (nay là thôn T, xã Q, tỉnh Lâm Đồng) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Phạm Minh H2 phải trả số tiền gốc và tiền lãi đã vay theo Hợp đồng tín dụng số HĐTD 4888689.23 ngày 30/12/2023 và hợp đồng cấp thẻ tín dụng chi số 5268879907860509. Trong quá trình thực hiện, đến thời hạn trả nợ ngày 15/7/2024, ông H2 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo như thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Do đó, căn cứ điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 388, 471, 474 của Bộ luật dân sự, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông H2 có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 975.318.884 đồng (trong đó nợ gốc là 794.862.570 đồng; lãi trong hạn là 114.712.648 đồng; lãi quá hạn 65.743.666 đồng) tính đến ngày xét xử 18/12/2025 là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Áp dụng án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016 thì tiền lãi sẽ được tiếp tục tính trên số dư nợ gốc thực tế kể từ ngày 19/12/2025 trở đi, theo mức lãi suất được quy định tại các hợp đồng HĐTD 4888689.23 và hợp đồng cấp thẻ tín dụng chi số 5268879907860509 cho đến khi ông H2 trả nợ xong.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 298, 299, 317, 323, 388, 471, 474 của Bộ luật dân sự; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/10/2016; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng cổ phần Q (V1) đối với ông Phạm Minh H2.
Buộc ông Phạm Minh H2 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 975.318.884 đồng (trong đó tiền gốc là 794.862.570 đồng; lãi trong hạn là 114.712.648 đồng; lãi quá hạn 65.743.666 đồng) tính đến ngày 18/12/2025.
Kể từ ngày 19/12/2025, ông Phạm Minh H2 tiếp tục phải trả lãi theo hợp đồng HĐTD 4888689.23 và hợp đồng cấp thẻ tín dụng chi số 5268879907860509 cho đến khi ông H2 trả nợ xong.
- Về án phí: ông Phạm Minh H2 phải chịu 42.108.536 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng cổ phần Q (V1) 18.932.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001180 ngày 24 tháng 7 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (Phòng Thi hành án Khu vực 7 - Lâm Đồng).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Hồng Nhung |
Bản án số 37/2025/DS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 37/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
