Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - C

TỈNH C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-9-2025

V/v ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Đức.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Đình Phương.
  2. Bà Huỳnh Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hoài Thư – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - C tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - C xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị A – Sinh ngày: 15/10/1981; nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện G, tỉnh K (cũ) (nay là: Thôn D, xã G, tỉnh C).

CCCD số: [...]; ngày cấp: 04/3/2022; nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội.

- Bị đơn: Anh Trần Văn B – Sinh ngày: 27/11/1975; nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện G, tỉnh K (cũ) (nay là: Thôn D, xã G, tỉnh C) (vắng mặt lần thứ hai).

CCCD số: [...].

* Nơi đăng ký kết hôn: Ủy ban nhân dân xã E, huyện G, tỉnh K (cũ) (nay là Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh C).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các đơn khởi kiện ngày 29 tháng 8 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 10 tháng 7 năm 2025 và các lời khai, cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Trương Thị A yêu cầu:

  1. Về hôn nhân: Chị Trương Thị A và anh Trần Văn B có tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện G, tỉnh K (cũ) (nay là Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh C) vào ngày 07/5/2002. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng không mấy hạnh phúc. Nguyên nhân không hạnh phúc là do anh B không lo làm ăn, thường xuyên đi chơi về đánh đập chị. Đỉnh điểm của mâu thuẫn từ cuối năm 2024, chị và anh B không sống chung với nhau như vợ chồng cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Nay chị A nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể nào hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn B.
  2. Về con chung của vợ chồng: Chị Trương Thị A và anh Trần Văn B có 02 con cháu đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Trương Thị A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn anh Trần Văn B: Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý cũng như các thông báo hòa giải và tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn B cố tình lẩn tránh từ chối khai báo.

Bài phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - C tại phiên tòa hôm nay đã nêu rõ trình tự thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử đúng theo quy định pháp luật.

Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay đề nghị Hội đồng xét xử: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình:

  • Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Trương Thị A được ly hôn với anh Trần Văn B.
  • Về con chung: Chị Trương Thị A không yêu cầu, anh Trần Văn B cố tình lẩn tránh không có ý kiến, không biết được nguyện vọng của anh B nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng: Chị Trương Thị A không yêu cầu, anh Trần Văn B cố tình lẩn tránh không có ý kiến, không biết được nguyện vọng của anh B nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Về án phí HNST: Chị Trương Thị A phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Văn B được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nB anh B vẫn cố tình vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh Trần Văn B.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị A và anh Trần Văn B có tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện G, tỉnh K (cũ) (nay là Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh C) vào ngày 07/5/2002. Hôn nhân của chị A và anh B là hợp pháp, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng không mấy hạnh phúc. Nguyên nhân không hạnh phúc là do anh B không lo làm ăn, thường xuyên đi chơi về đánh đập chị. Đỉnh điểm của mâu thuẫn từ cuối năm 2024, chị và anh B không sống chung với nhau như vợ chồng cho đến nay, vợ chồng không ai quan tâm đến ai. Ngày 10 tháng 7 năm 2025, chị Trương Thị A làm đơn khởi kiện về việc ly hôn gửi đến Tòa án. Quá trình Tòa giải quyết, anh Trần Văn B cố tình lẩn tránh, tại phiên tòa hôm nay anh B cũng cố tình lẩn tránh nên Hội đồng xét xử không biết được nguyện vọng của anh B. Tòa xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Trương Thị A và anh Trần Văn B đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị A là phù hợp với các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Trương Thị A không yêu cầu, anh Trần Văn B cố tình lẩn tránh không có ý kiến, không biết được nguyện vọng của anh B nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Trương Thị A không yêu cầu, anh Trần Văn B cố tình lẩn tránh không ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí HNST: Chị Trương Thị A phải chịu theo quy định pháp luật.

[6] Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - C phát biểu quan điểm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Trương Thị A được ly hôn với anh Trần Văn B.
  2. Về con chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí HNST: Chị Trương Thị A phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) sung ngân sách Nhà nước, chị A đã nộp tạm ứng án phí khởi kiện 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000468 ngày 18/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh C, nay được khấu trừ.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt các đương sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Phòng Thanh tra, Kiểm tra và Thi hành án TAND tỉnh C;
  • - VKSND khu vực 3 - C;
  • - Phòng THADS khu vực 3 - C;
  • - UBND xã G, tỉnh C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cao Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HNGĐ-ST ngày 27/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - C TỈNH C về ly hôn

  • Số bản án: 36/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - C TỈNH C
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRƯƠNG THỊ A VÀ TRẦN VĂN B - LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger