Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 302/2025/DS-PT

Ngày 05 tháng 11 năm 2025

V/v tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Hai và ông Đào Chí Keo.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mộng Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 304/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2025, tranh chấp “ Quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2025, của Toà án nhân dân khu vực 10 – An Giang, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 292/2025/QĐXX-PT ngày 23 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. 1. 1 Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1955
  2. 1. 2 Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1957
  3. 1.3 Bà Trần Kim O, sinh năm 1964
  4. 1. 4 Ông Trần Ngọc H, sinh năm 1965
  5. 1.5 Bà Trần Lệ T, sinh năm 1969
  6. 1.6 Ông Trần Văn H1, sinh năm 1970
  7. 1.7 Ông Trần Văn D, sinh năm 1972
  8. 1.8 Ông Trần Văn Ú, sinh năm 1975

Cùng địa chỉ nơi cư trú: khóm T, xã T, tỉnh An Giang.

Ông Trần Văn D là người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Kim O, ông Trần Ngọc H, bà Trần Lệ T, ông Trần Văn H1 và ông Trần Văn Ú (Theo văn bản ủy quyền ngày 26/12/2023)

2. Bị đơn:

  1. 2.1 Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1967;
  2. 2.2 Ông Trương Văn S, sinh năm 1962;

Cùng nơi cư trú: khóm T, xã T, tỉnh An Giang.

Nơi tạm trú hiện nay: tổ C, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Trương Văn T1, sinh năm 1990; chị Trương Thị Bích V, sinh năm 1988 và anh Trương Minh T2, sinh năm 1992. Tất cả cùng nơi cư trú: khóm T, xã T, tỉnh An Giang. Tất cả hiện tạm trú: tổ C, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Trương Văn S, anh Nguyễn Văn T3, chị Trương Thị Bích V và anh Trương Minh T2 là bà Nguyễn Thị L1.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông D, bà L1, ông T2 có mặt.

Người kháng cáo: ông Trần Văn D là nguyên đơn trong vụ án

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn do ông Trần Văn D trình bày: Nguồn gốc đất là của bà Tư T4 cho ông nội Trần Văn N, ông nội cho lại cha ruột ông là ông Trần Văn Đ. Năm 1996, ông Đ chết để lại cho các con khoảng 500m² và 140m² đất cây lâu năm, thuộc bản đồ số 47 tọa lạc tại khóm T, xã T, tỉnh An Giang. Ông và các anh chị em quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay không ai tranh chấp tuy nhiên đến nay đất vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đến ngày 09/9/2022, ông đại diện các anh chị em có đến Văn phòng đăng ký đất đai huyện T để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên. Chính quyền địa phương có xuống cắm ranh để đo đạc thì bà Nguyễn Thị L1 không đồng ý, nói mương nước diện tích ngang 5m, dài 4,7m nằm trong diện tích đất cha ông để lại là của bà L1. Hai bên bắt đầu xảy ra tranh chấp.

Tại đơn khởi kiện ngày 01/11/2023, bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Kim O, ông Trần Ngọc H, bà Trần Lệ T, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn D và ông Trần Văn Ú yêu cầu bà Nguyễn Thị L1 trả lại cho bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Kim O, ông Trần Ngọc H, bà Trần Lệ T, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn D và ông Trần Văn Ú là những người thừa kế của ông Trần Văn Đ (đã chết) quyền sử dụng đất phần đất lấn chiếm có diện tích 23,5m² (ngang 5m, dài 4,7m), thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 47, đất tọa lạc tại khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

Ngày 21/5/2025, người khởi kiện bà Trần Thị Kim L, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Kim O, ông Trần Ngọc H, bà Trần Lệ T, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn D và ông Trần Văn Ú có đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau: yêu cầu bà Nguyễn Thị L1 và ông Trương Văn S phải trả lại diện tích đất 18,1m² tọa lạc tại khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Thống nhất với Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23/12/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh T5; Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án và Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T6.

* Bị đơn do bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Diện tích đất mà phía các nguyên đơn khởi kiện là của cha mẹ chồng bà. Trước đây toàn bộ diện tích đất đều là ao, đìa. Sau này cha mẹ chồng bà bồi đắp để tạo thành đất ở. Lúc bồi đắp chỉ có cha mẹ chồng bà và cha ruột ông Đ, sau này bà về làm dâu cha mẹ chồng cho vợ chồng bà ra riêng cất nhà cặp kề bên vào khoảng năm 1992. Sau khi bồi đắp cha mẹ chồng bà vẫn chứa phía sau cái ao để nuôi cá. Nhà ai có ao phía sau thì cứ sử dụng. Nhà bà ở hiện nay lúc trước là chuồng heo của nhà chồng, sau đó mẹ chồng ra chỉ cho vợ chồng bà diện tích đất cho chứ cũng không biết cụ thể diện tích bao nhiêu. Năm 2005 bà đã kê khai và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi đoàn đo đạc xuống đo bà có chỉ cả phần ao này; tuy nhiên không biết lý do vì sao trong giấy chứng nhận bà được cấp lại không có diện tích đất này.

Nay các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng bà là Nguyễn Thị L1, Trương Văn S phải trả lại diện tích đất lấn chiếm 18,1m², bà không đồng ý. Bà yêu cầu được công nhận diện tích đất 18,1m² tọa lạc tại khóm T, xã T, tỉnh An Giang.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn cùng thể hiện: diện tích khoảng 23,5m² là đất ao, trên đất không có vật kiến trúc, cây cối lâu năm hiện do bà Nguyễn Thị L1 đang quản lý, sử dụng.

Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 23/12/2024 của Văn phòng Đ Chi nhánh T5 thể hiện diện tích đất các bên tranh chấp là 18,1m² (theo các điểm 1, 2, 3, 4).

Trong quá trình giải quyết vụ án, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Công văn số 78/UBND-TH ngày 17/6/2025 với nội dung: diện tích đất 18,1m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được quy hoạch vào đất ở tại đô thị không thuộc đất công do nhà nước quản lý nên sau khi có bản án, quyết định của Tòa án người sử dụng đất sẽ được xem xét cấp giấy chứng nhận theo quy định.

Tại chứng thư thẩm định giá ngày 20/6/2025 của Công ty cổ phần T6 xác định: diện tích đất 18,1m² có giá trị 2.532.600đ/m².

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang, đã xử:

Căn cứ Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 và Khoản 4 Điều 91; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ Khoản 1 Điều 166, Điều 254 Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ Khoản 5 Điều 166; Điều 202 và Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Kim O, ông Trần Ngọc H, bà Trần Lệ T, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn D và ông Trần Văn Ú về việc yêu cầu ông Trương Văn S, bà Nguyễn Thị L1 phải trả lại 18,1m² tọa lạc tại khóm T, xã T, tỉnh An Giang.

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trương Văn S, bà Nguyễn Thị L1.

Ông Trương Văn S, bà Nguyễn Thị L1 có quyền đăng ký kê khai để được công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 18,1m² (tại các điểm 1, 2, 3, 4) theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23/12/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh T5, đất tọa lạc tại khóm T, xã T, tỉnh An Giang.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, tiền án phí và quyền kháng cáo, thời gian yêu cầu thi hành án của các đương sự khi án có hiệu lực.

Ngày 09/9/2025, nguyên đơn Ông Trần Văn D kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm;

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đương đơn giữ nguyên đơn yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án và cam kết không cung cấp chứng cứ mới tại giai đoạn phúc thẩm

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, trình bày của các đương sự tại phiên tòa, không có chứng cứ mới phát sinh, xét thấy cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Nguyên đơn Trần Văn D nộp đơn kháng cáo hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Trần Văn D, thì thấy:

Nguyên đơn cho rằng diện tích đất 18,1m² mà nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị L1, ông Trương Văn S trả lại là của Bà Tư T4 cho ông nội Trần Văn N, ông nội cho cha ruột của nguyên đơn là ông Trần Văn Đ. Năm 1996, ông Đ chết nên để lại cho các con. Nguyên đơn sử dụng ổn định từ năm 1996 cho đến nay thì xảy ra tranh chấp với bị đơn; tuy nhiên, ngoài phần trình bày trên thì nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất.

Xét thấy, mặc dù diện tích đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng căn cứ vào các biên bản xác minh về nguồn gốc đất ngày 15/4/2025 của Tòa án, được các hộ lân cận, giáp ranh diện tích đất tranh chấp cung cấp về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất thì xác định nguồn gốc đất là của cha mẹ ruột ông Trương Văn S là ông Trương Hữu L2, bà Trần Thị H2 (đều đã chết), để lại cho các con, trong đó có ông S, bà L1, hơn nữa người trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất này cho đến nay là ông S, bà L1; những biên bản xác minh này phù hợp với lời khai của bị đơn, việc nguyên đơn cho rằng đây là đất của nguyên đơn và yêu cầu bị đơn phải trả lại là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[3] Về yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị L1, ông Trương Văn S yêu cầu được công nhận diện tích đất 18,1m², thấy: như nhận định ở trên, nguồn gốc đất là của cha mẹ ông S chết để lại, ông S và bà L1 trực tiếp quản lý, sử dụng cho đến nay. Theo Công văn số 78/UBND-TH ngày 17/6/2025 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang cung cấp thông tin diện tích đất 18,1m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được quy hoạch vào đất ở tại đô thị không thuộc đất công do nhà nước quản lý, nên sau khi có bản án, quyết định của Tòa án người sử dụng đất sẽ được xem xét cấp giấy chứng nhận theo quy định. Như vậy việc ông S, bà L1 yêu cầu được công nhận đối với diện tích đất là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Kim O, ông Trần Ngọc H, bà Trần Lệ T, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn D, ông Trần Văn Ú và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trương Văn S, bà Nguyễn Thị L1, là có căn cứ.

[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp chứng cứ gì mới, làm thay đổi bản chất vụ án, nên kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn D không có cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp pháp luật.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét có hiệu lực pháp luật.

[6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn D phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148; Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Trần Văn D;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang.

- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị L, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Kim O, ông Trần Ngọc H, bà Trần Lệ T, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn D và ông Trần Văn Ú về việc yêu cầu ông Trương Văn S, bà Nguyễn Thị L1 phải trả lại 18,1m² tọa lạc tại khóm T, xã T, tỉnh An Giang.

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trương Văn S, bà Nguyễn Thị L1.

Ông Trương Văn S, bà Nguyễn Thị L1 có quyền đăng ký kê khai để được công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 18,1m² (tại các điểm 1, 2, 3, 4) theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23/12/2024 của Văn phòng Đ chi nhánh T5, đất tọa lạc tại khóm T, xã T, tỉnh An Giang.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn D phải chịu 300.000đ, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001608 ngày 09/9/2025 của Thi hành án tỉnh An Giang (theo thông báo số 09/TB-TA ngày 09/9/2025 của Tòa án Khu vực 10 - An Giang).

Các phần khác của bản án sơ thẩm số 47/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - An Giang, không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND.AG (1)
  • - TAND khu vực (1)
  • - THA khu vực (1).
  • - Toà Dân sự (2)
  • - Văn phòng.(1)
  • - Phòng GĐ, KT, TT & THA (1)
  • - Đương sự “ Để thi hành”
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2025/DS-PT ngày 05/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp “quyền sử dụng đất”

  • Số bản án: 302/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp “Quyền sử dụng đất”
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà L, ông D và đồng nguyên đơn khác kiện bà L, ông S đòi lại đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger