Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 -THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:30/2025/HS-ST

Ngày 09 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:BàLê Thị Tân
Các Hội thẩm nhân dân:BàĐỗ Thị Sinh
BàLâm Thị Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mơ, thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2025/HSST/TLST - HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Mai Xuân K, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2006; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Nơi thường trú: TDP A T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Mai Xuân T (đã chết) và bà Dương Thị H; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 25/7/2023 Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 13 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2024;

- Ngày 30/9/2022 Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.

2. Mai Văn H1; sinh năm 1984; giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; nơi thường trú: Số nhà B, phố T, phường Đ, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Mai Văn S(đã chết); và bà Mai Thị H2; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị H3 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 22/8/2015 Công an phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc”;

- Ngày 18/3/2022 Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Lăng mạ, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác"

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2025 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22h50' ngày 12/9/2025, Tổ công tác Công an phường H, tỉnh Thanh Hóa làm nhiệm vụ tại đường N, khi đến trước Bến xe phía T, đường N, phường H, tỉnh Thanh Hóa thì phát hiện Mai Văn H1 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu kiểm tra. Sau đó H1 đã tự giác nhặt 01 chiếc khẩu trang được cuộn tròn, bên trong có 01 túi nilong màu trắng kích thước 2x2cm, chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu trắng ở dưới gốc cây ngay chỗ H1 đứng giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận đây là ma túy của Mai Xuân K bảo H1 mang đi bán. Tổ công tác Công an phường H biên bản bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với H1. Đến 04h ngày 13/9/2025, Mai Xuân K đã đến Công an phường H, tỉnh Thanh Hóa đầu thú.

Tại cơ quan điều tra, Mai Văn H1 và Mai Xuân K khai nhận: Tối ngày 12/9/2025 tại gầm cầu vượt P, phường H, tỉnh Thanh Hóa, K có gặp và mua của 1 người đàn ông tên T1 khoảng 30 tuổi một gói ma túy tổng hợp gồm 01 viên kẹo (thuốc lắc), ½ chỉ Ketamine với giá 1.400.000đ với mục đích để sử dụng cá nhân và nếu có người hỏi mua sẽ bán lại kiếm lời. Sau đó, K đi chơi với bạn nên đã bọc gói ma túy trên bằng khẩu trang vải màu trắng rồi cất giấu ở bãi đất trống trước khách sạn K1. Khoảng 21h30' cùng ngày, khi K đi về đứng trước nhà nghỉ M1 thuộc phường H, tỉnh Thanh Hóa để đợi bạn thì gặp 1 nam thanh niên tên N (K không rõ nhân thân lai lịch) hỏi K biết chỗ nào mua ma túy để sử dụng. K nói có và đồng ý bán cho Nam 1 viên kẹo; ½ chỉ ketamine với giá 1.800.000đ. N đồng ý mua và hẹn khoảng 01h sau sẽ đến trước cổng Bến xe phía Tây giao dịch rồi nhận tiền. Sau đó, do bận công việc nên K liên hệ với Mai Văn H1 qua M bảo H1 cầm ma túy đi bán, nếu bán được thì sẽ trả công cho H1 200.000đ, H1 đồng ý. K bảo H1 ra bãi đất trống đối diện nhà hàng K2 đường T, phường H, tỉnh Thanh Hóa lấy 01 túi ma túy ketamine (1/2 chỉ ketamine) và 01 viên ma túy thuốc lắc được cuộn trong chiếc khẩu trang màu trắng mang đến khu vực trước cổng Bến xe phía T, đường N, phường H, tỉnh Thanh Hóa để bán. Sau đó, H1 mang đến địa điểm trên lấy túi ma túy ketamine và thuốc lắc cất giấu trong người, đi đến khu vực B phía Tây giấu ma túy dưới cây cột cạnh thùng rác, ngay lúc đấy H1 bị tổ công tác Công an phường H phát hiện, bắt quả tang.

Khám xét khẩn cấp nhà ở của Mai Xuân K và Mai Văn H1 đều không thu giữ thêm được gì.

Tại Bản kết luận giám định số 3519/KL-KTHS ngày 18/9/2025 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận:

“- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,442g loại: Ketamine

- 01 viên nén màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,629g loại: MDMA”

Vật chứng của vụ án:

  • - 01 chiếc khẩu trang màu trắng được cuộn tròn, bên trong chứa 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng (2x2)cm, đựng các hạt tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu trắng.
  • - 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro Max, số Seri FK1ZJC03N70R đã qua sử dụng (thu của Mai Văn H1).
  • - 01 điện thoại di động Iphone 12, số Seri DX3FG2QE0F01 đã qua sử dụng (thu của Mai Xuân K).

Các tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông tên T1 đã bán ma túy cho K tại khu vực gầm cầu vượt P, phường H vào tối ngày 12/9/2025, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Công an phường H tiến hành xác minh, rà soát camera, nhưng không xác định được hình ảnh người đặt bán ma túy cho K. Ngoài lời khai của K thì không có thêm tài liệu, chứng cứ khác nên không đủ căn cứ làm rõ và xử lý.

Đối với người nam giới đặt mua ma túy của K nhưng chưa mua được, theo K khai người đàn ông này tên N, cả 2 gặp nhau ở nhà nghỉ M1, phường H, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng không xác định được người đàn ông nào tên N như K đã khai báo. Ngoài lời khai của K thì không có tài liệu khác, nên không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 27/CTr - VKSKV1 ngày 11 tháng 11 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Thanh Hoá truy tố bị cáo Mai Xuân K và Mai Văn H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Mai Xuân K mức án từ 48 đến 54 tháng tù; bị cáo Mai Văn H1 mức án từ 36 đến 42 tháng tù.

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các chất ma túy, các đồ vật, tài sản khác thu giữ liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo H1 và K và buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần đối đáp một lần nữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị tại bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và quyết định hình phạt theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhận tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là đúng và không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo không có ý kiến không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Mai Xuân K và Mai Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Tối ngày 12/9/2025, Mai Xuân K đã có hành vi mua trái phép chất ma túy và nhờ Mai Văn H1 bán ma túy nhằm thu lời bất chính. Tổng khối lượng 2 chất ma túy mà K và H1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái pháp chất ma túy là 0,629 gam MDMA và 0,442 gam Ketamine, tương đương 0,739 gam MDMA và 2,958 gam Ketamine. Sau khi bị cáo Mai Văn H1 bị bắt, bị cáo Mai Xuân K đã đến cơ quan Công an đầu thú.

[3] Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) có khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù.

[4] Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi những hậu quả nghiêm trọng do việc mua bán, vận chuyển, nghiện chất ma tuý gây ra. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực

trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích kiếm lời bất chính, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[5] Vai trò và trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn, tuy nhiên bị cáo Mai Xuân K là người trực tiếp mua ma túy và giao dịch bán ma túy, bị cáo K là người nhờ bị cáo Mai Văn H1 đem ma túy đi bán cho người tên là N mà bị cáo K đã giao dịch trước đó và hứa sẽ trả công cho bị cáo H1 số tiền 200.000đ, nên bị cáo K có vai trò chính trong vụ án, bị cáo H1 là người giúp sức cho bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội, do đó bị cáo K phải chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo H1 là phù hợp.

[6] Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo Mai Xuân K đã đầu thú, bị cáo Mai Văn H1 có bố là Mai văn S có thời gian công tác tại Quần đảo Trường Sa được tặng Bằng khen, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xét thấy: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng. Trước khi phạm tội các bị cáo là người có nhân thân xấu, bị cáo H1 đã hai lần bị xử lý hành chính, bị cáo K đã bị xử lý hành chính kết án về hành vi gây rối trật tự công cộng, mặc dù tiền án đó đã được xóa án tích nhưng cũng chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Do đó, việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do các bị cáo chưa được hưởng lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để sung quỹ Nhà nước là phù hợp pháp luật.

[7] Về vật chứng:

  • - Số ma túy thu của các bị cáo được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành, các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;
  • - Đối với 02 điện thoại di động đã thu giữ của các bị cáo, đây là phương tiện bị cáo đã liên lạc vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước.Theo quy định tại khoản 1, điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Mai Xuân K và bị cáo Mai Văn H1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy";

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;

1. Xử phạt: Bị cáo Mai Xuân K 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2025.

2. Xử phạt: Bị cáo Mai Văn H1 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/9/2025.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy được niêm phong và 01 chiếc khẩu trang; Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động; (Đặc điểm tang vật như Biên bản giao nhận vật chứng số 23/2026/KV1 ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa Công an tỉnh T và Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Mai Xuân K và bị cáo Mai Văn H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 1 - Thanh Hoá;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Văn phòng CSĐT CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Phòng HS nghiệp vụ CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - Thi hành án DS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

( Đã ký)

Lê Thị Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Xuân K và đồng phạm phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger