|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày 18-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Để
Bà Đoàn Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Văn X, sinh ngày 01/01/1976 tại xã T, tỉnh An Giang; Nơi đăng ký thường trú: Ấp X, xã T, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 02/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn L, sinh năm 1950 và bà Lê Thị S, sinh năm 1956; Vợ Bùi Thị N, sinh năm 1983; Có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/7/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1983. Có mặt
Nơi đăng ký thường trú: Ấp X, xã T, tỉnh An Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp X, xã T, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1963. Vắng mặt
Trú tại: Ấp X, xã T, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962. Vắng mặt
Trú tại: Khóm F, phường B, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 27/5/2025, Công an xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (nay là Công an xã T, tỉnh An Giang) tiến hành kiểm tra và bắt quả tang tại nhà bị cáo Võ văn X đang thực hiện hành vi bán số lô, số đề nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 05 (Năm) quyển vở có ghi những con số; 01 (Một) cây bút bi nhãn hiệu “Thiên Long” màu Xanh - Trắng; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, số IMEI: 866167061373130, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 23.000.000 đồng.
Qua kiểm tra phơi số đề bán vào ngày 27/5/2025, xác định Võ văn X bán được tổng số tiền 5.815.000 đồng (Trong đó: Đài B số tiền 4.390.000đ, đài Vũng Tàu số tiền là 857.500 đồng, đài Bến Tre số tiền 567.500 đồng, chưa mở thưởng thì bị bắt quả tang. Các con số và số tiền cụ thể như sau:
- Đ Bạc Liêu:
+ Số đầu bán được 34 con số bao gồm: Số 00 bán được 20.000đ, số 01 bán được 10.000đ, số 06 bán được 30.000đ, số 07 bán được 30.000đ, số 10 bán được 30.000đ, số 11 bán được 460.000đ, số 12 bán được 30.000đ, số 13 bán được 30.000đ, số 14 bán được 30.000đ, số 15 bán được 30.000đ, số 16 bán được 30.000đ, số 17 bán được 30.000đ, số 18 bán được 30.000đ, số 19 bán được 30.000đ, số 20 bán được 30.000đ, số 23 bán được 70.000đ, số 24 bán được 390.000đ, số 25 bán được 200.000đ, số 29 bán được 30.000đ, số 30 bán được 120.000đ, số 31 bán được 40.000đ, số 32 bán được 240.000đ; số 36 bán được 20.000đ, số 42 bán được 20.000đ, số 46 bán được 50.000đ, số 47 bán được 150.000đ, số 51 bán được 30.000đ, số 52 bán được 530.000đ, số 53 bán được 30.000đ, số 59 bán được 600.000đ, số 63 bán được 30.000đ, số 68 bán được 100.000đ, số 69 bán được 90.000đ, số 84 bán được 25.000đ. Tổng số tiền là bán số đầu của đài Bạc Liêu 3.665.000 đồng.
+ Số lô bán được 06 con số bao gồm: Số 52 bán được 5.000 đồng, số 58 bán được 15.000 đồng, số 85 bán được 15.000 đồng, số 93 bán được 5.000 đồng, số 95 bán được 5.000 đồng, số 93 bán được 5.000 đồng. Tổng số tiền bán số lô đài tỉnh Bạc Liêu là 50.000đ x 14,5 lô = 725.000 đồng.
- Đ:
+ Số đầu bán được 11 con số bao gồm: Số 00 bán được 5.000 đồng, số 01 bán được 5.000 đồng, số 02 bán được 5.000 đồng, số 03 bán được 5.000 đồng, số 04 bán 5.000 đồng, số 05 bán được 5.000 đồng, số 06 bán được 5.000 đồng, số 07 bán được 5.000 đồng, số 08 bán được 5.000 đồng, số 09 bán được 5.000 đồng, số 52 bán được 10.000 đồng. Tổng số tiền là bán số đầu của đài Vũng T1 là 60.000 đồng.
+ Số lô đài Vũng Tàu bán được 04 con số bao gồm: Số 52 bán được 5.000 đồng, số 58 bán được 15.000 đồng, số 67 bán được 20.000 đồng, số 85 bán được 15.000 đồng. Tổng số tiền bán số lô đài tỉnh Vũng Tàu là 55.000đ x 14,5 lô = 797.500 đồng.
- Đ1:
+ Số đầu bán được 11 con số bao gồm: Số 00 bán được 5.000 đồng, số 01 bán được 5.000 đồng, số 02 bán được 5.000 đồng, số 03 bán được 5.000 đồng, số 04 bán được 5.000 đồng, số 05 bán được 5.000 đồng, số 06 bán được 5.000 đồng, số 07 bán được 5.000 đồng, số 08 bán được 5.000 đồng, số 09 bán được 5.000 đồng, số 52 bán được 10.000 đồng. Tổng số tiền bán số đầu của là 60.000 đồng.
- Số lô bán được 03 con số bao gồm: Số 52 bán được 5.000 đồng, số 58 bán được 15.000 đồng, số 85 bán được 15.000 đồng. Tổng số tiền là bán số lô của đài Bến Tre là 35.000đ x 14,5 lô = 507.500 đồng.
Bị cáo Võ Văn X khai nhận: Khi bán số đề thì X tự giữ phơi số lại và ăn thua trực tiếp với những người mua số không có nộp phơi cho ai, vào ngày 26/5/2025 có đứng ra bán số lô, số đề, cho người dân tại địa phương, trong ngày 26/5/2025, X bán cho ai không nhớ và không nhớ bán bao nhiêu tiền, kết mở thưởng người mua trúng thưởng X bị lỗ không có thu lợi. Trong ngày 27/5/2025, Võ Văn X khai nhận bán số cho Nguyễn Thị S1 con số 25 với số tiền 10.000 đồng, con số 52 với số tiền 20.000 đồng đã nhận tiền, bán số cho Nguyễn Lệ T2 04 con số gồm số 11, 12,13, 14 mỗi con số 10.000 đồng tổng số tiền là 40.000 đồng đã nhận tiền và bán thiếu cho một số người dân địa phương khác mà X không nhớ tên khi nào có kết quả sổ số mới tính tình ăn thua. Mỗi ngày xuyên bán số bằng hình thức người mua số qua nhà gặp trực tiếp bị can X để mua hoặc điện thoại cho bị can X qua số 0833.012.158 để mua số, trong ngày 27/5/2025 X bán trực tiếp tại nhà, hình thức ăn thua là mua 01 trúng 80 lần đối với số đầu, số đuôi, số lô và mua 01 trúng 600 lần đối với số đá, lấy kết quả xổ số các đài miền N làm căn cứ trúng thưởng. Như vậy trong hai ngày bán số đề ngày 26 và 27/5/2025 Võ Văn X bán số đề thu lợi bất chính tổng số tiền 70.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ, tạm giữ các đồ vật, vật chứng gồm: 05 (Năm) quyển vở có ghi những con số; 01 (Một) cây bút bi nhãn hiệu “Thiên Long” màu Xanh - Trắng; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, số IMEI: 866167061373130, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 23.000.000 đồng.
Bị cáo Võ Văn X đã tự nguyện giao nộp: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobitar, đã qua sử dụng, có lắp sim số thuê bao số 0833 012158.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại bị cáo Võ Văn X 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, màu đen, IMEI: 866167061373130, đã qua sử dụng và trả lại cho chị Bùi Thị N (là vợ) của bị cáo Võ Văn X số tiền 23.000.000 đồng do không liên quan đến việc phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV7 ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Võ Văn X về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Văn X phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Võ Văn X từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng và 15.000.000 đồng.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobitar, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây bút bi nhãn hiệu “Thiên Long” màu Xanh - Trắng và sim số thuê bao số 0833 012158.
Buộc bị cáo nộp tiền thu lợi bất chính là 5.815.000 đồng (đã nộp 70.000 đồng), bị cáo tiếp tục nộp số tiền 5.745.000 đồng.
Bị cáo Võ Văn X trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội với số tiền là 5.815.000 đồng và đồng ý nộp lại toàn bộ số tiền đã thu lợi bất chính.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị N: Không có ý kiến và yêu cầu gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố Tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Vào ngày 27/5/2025, tại ấp X, xã T, tỉnh An Giang, bị cáo Võ Văn X có hành vi đánh bạc trái phép được ăn thua bằng tiền bằng hình thức bán số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các đài miền N (Bạc Liêu, Bến Tre, Vũng Tàu) khi đang tổng hợp phơi đề bán được trong ngày, chưa có kết quả xổ số thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Tổng số tiền Võ Văn X dùng để đánh bạc là 5.815.000 đồng, đã thu lợi bất chính số tiền 5.815.000 đồng. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang truy tố bị cáo Võ Văn X về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng hành vi, có khả năng nhận thức, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, bị cáo biết rõ đánh bạc dưới hình bán số lô, số đề ăn thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị pháp luật cấm, nhưng vì muốn kiếm tiền nhanh chóng nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo không suy nghĩ đến hậu quả của việc đánh bạc có thể dẫn đến tiêu tán tài sản, ảnh hướng đến kinh tế của nhiều gia đình và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân để tuyên xử mức án phù hợp.
Đối với Nguyễn Lệ T2, Nguyễn Thị S1 có hành vi mua số đề do bị cáo X bán, nhưng số tiền đánh bạc chưa đủ để xử lý hình sự về tội “Đánh bạc” nên Công an xã T, tỉnh An Giang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
[3] Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội là 5.815.000 đồng, đã nộp 70.000 đồng và đồng ý tiếp tục nộp số tiền còn lại. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà giao cho địa phương giám sát, giáo dục bị cáo. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp với hành vi của bị cáo và đã đủ tính răn đe.
[4] Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.
[5] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobitar, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây bút bi nhãn hiệu “Thiên Long” màu Xanh - Trắng và sim số thuê bao số 0833 012158.
Buộc bị cáo nộp tiền thu lợi bất chính là 5.815.000 đồng, bị cáo đã nộp 70.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục nộp số tiền 5.745.000 đồng.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Võ Văn X phải nộp theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn X phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025;
Xử phạt bị cáo Võ Văn X 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an tỉnh A nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
3. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.
4. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Buộc bị cáo nộp tiền thu lợi bất chính là 5.815.000 đồng, bị cáo đã nộp 70.000 đồng theo lãi thu số 0001599 ngày 04/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang, bị cáo tiếp tục nộp số tiền 5.745.000 đồng (Năm triệu bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobitar, đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây bút bi nhãn hiệu “Thiên Long” màu Xanh - Trắng và sim số thuê bao số 0833 012158.
(Theo quyết định chuyển vật chứng số 03/QĐ-VKSKV7ngày 31/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh An Giang).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 và năm 2025 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Võ Văn X phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Trần Mộng Thúy |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH AN GIANG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
