|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – SƠN LA Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày: 29 - 12 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 – Sơn La
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Cầm Văn Tổ, ông Hoàng Minh Xuân.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Văn Dũng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Chí – Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam M, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh S
- Kiểm sát viên: Ông Nguyễn Hữu Đ - Kiểm sát viên.
- Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thảo N.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 - Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2025/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2025/QĐXXST – HS ngày 16 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy C; tên gọi khác: Không; sinh năm 1976 tại xã K, tỉnh Hưng Yên; số định danh cá nhân: 033076010872; nơi cư trú: Bản H, xã C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy K (Đã chết), con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1952; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N1, sinh năm 1978 và có 03 con (Lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số: 05/2022/HSST ngày 15/11/2022 của Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Bản án số: 01/2002/HSST ngày 04/01/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Trong vụ án này bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2025 tại Phân trại tạm giam M, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh S, cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 11/8/2025, Nguyễn Duy C, sinh năm 1976, trú tại: Bản H, xã C, tỉnh Sơn La mang theo số tiền 350.000 đồng một mình đi bộ từ nhà tại bản H, xã C theo đường dân sinh đến khu vực bản L, phường M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày khi C đi qua khu rừng thuộc bản L, phường M thì gặp 01 người đàn ông không quen biết. Sau khi bắt chuyện làm quen thì C đã hỏi và mua được của người đó một lượng Heroine và 13 viên hồng phiến (Được gói bằng riêng bằng 02 mảnh nilon màu xanh), với số tiền 350.000 đồng. Cao cất 02 gói ma túy vừa mua vào trong túi áo ngực phía trước bên trái, sau đó xin được của người đàn ông vừa bán ma túy một ít cục bột vụn Heroine để sử dụng bằng cách dùng bật lửa ga và mảnh giấy bạc cách đốt hít qua đường thở. Sử dụng xong ma túy thì C đi bộ theo lối cũ về nhà.
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/8/2025 trong khi Nguyễn Duy C đang đứng ở đường dân sinh (Đối diện nhà ở của đối tượng) thì bị tổ công tác Công an xã C, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang về hành vi cất dấu trong người một lượng Heroine và 13 viên hồng phiến, được gói riêng bằng 02 mảnh nilon màu xanh như đã nêu.
Vật chứng thu giữ: Gồm 02 gói nilon màu xanh. Trong đó bên trong gói thứ nhất chứa một lượng chất bột màu trắng, theo Nguyễn Duy C khai nhận là H. Bên trong gói thứ hai chứa 13 viên hồng phiến, theo Nguyễn Duy C khai nhận là Hồng phiến.
Ngày 12/8/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S tiến hành cân tịnh khối lượng vật chứng do thu giữ của Nguyễn Duy C. Kết quả:
- Gói nilon màu xanh thứ nhất chứa 0,48 gam bột cục màu trắng nghi là H. Sử dụng toàn bộ 0,48 gam ký hiệu A làm mẫu gửi giám định.
- Gói nilon màu xanh thứ hai chứa 13 viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 1,38 gam. Lấy toàn bộ 1,38 gam ký hiệu B làm mẫu gửi giám định.
Tại kết luận giám định số 972/KL-KTHS ngày 16/8/2025 của phòng K1 Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, Loại H (Heroin); khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,48 gam. Mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, Loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 1,38 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,48 gam, Loại Heroine (H) và 1,38 gam; Loại Methamphetamine”.
H1 lại đối tượng giám định: Chất cục bột màu trắng ký hiệu A có khối lượng 0,45 gam và các viên nén đồng dạng hình trụ tròn màu hồng ký hiệu B có khối lượng 1,25 gam và vỏ phong bì niêm phong mẫu giám định đã bóc mở.
Quá trình điều tra Nguyễn Duy C đã khai nhận hành vi ngày 12/8/2025 bị bắt quả tang về hành vi cất dấu 0,48 gam Heroine và 1,38 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân như đã nêu.
Cáo trạng số: 26/CT – VKSKV4_ngày 05/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La, đề nghị truy tố bị can Nguyễn Duy C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La giữ quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Duy C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 42 đến 48 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,45 gam Heroine, 1,25 gam Methamphetamine và 02 mảnh nilon màu xanh.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy C có ý kiến: Thừa nhận ngày 12/8/2025 bị bắt quả tang về hành vi cất dấu 0,48 gam Heroine và 1,38 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội mà giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận ngày 12/8/2025 bị bắt quả tang về hành vi cất dấu trái phép 0,48 gam Heroine và 1,38 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định đối với vật chứng thu giữ là 02 loại ma túy (0,48 gam Heroine + 1,38 gam Methamphetamine) = 1,86 gam và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Duy C đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Sơn La là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025 quy định tội Tàng trữ trái phép chất ma túy:
“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
a)...
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước là xâm hại đến nhân cách, sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng; là nguyên nhân làm phát sinh, lây lan tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy tại địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo về ý thức chấp hành pháp luật.
[4] Về nhân thân bị cáo: Ngày 04/01/2002 bị cáo Nguyễn Duy C bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã xử phạt 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Mặc dù tính đến thời điểm phạm tội trong vụ án này đã được xóa án tích, tuy nhiên cũng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu để xem xét quyết định hình phạt, theo quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự.
[5] Tình tiết tăng nặng: Ngày 15/11/2022, bị cáo Nguyễn Duy C bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, kết án 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong thời gian chưa được xóa án tích lại phạm tội mới, do đó bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai nhận tội. Nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Đối với hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Căn cứ vào biên bản xác minh, nhân thân bị cáo xác định bị cáo không có tài sản để thi hành. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.
[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,45 gam Heroine, 1,25 gam Methamphetamine (Số ma túy còn lại sau giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, vật cấm lưu hành. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Để tuyên tịch thu tiêu hủy cùng 02 mảnh nilon màu xanh (Vật gói ma túy ban đầu).
[9] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bản L, phường M, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được thông tin về tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của đối tượng nên không có cơ sở để điều tra, xử lý.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025;
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 12/8/2025 (Ngày bắt giữ bị cáo).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: Mẫu A = 0,45 gam Heroine; B = 1,25 gam Methamphetamine; 02 mảnh nilon màu xanh vật chứng ban đầu.
Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 26/BB-CCTHADS ngày 29/12/2025, giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Sơn La.
2. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.0000 đồng.
3. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (29/12/2025).
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
