Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 250/2025/HS-PT

Ngày 08-12-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân.
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và bà Nguyễn Thị Hải Âu
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Bà Hồ Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 07-8-2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Thị N (bà C1), sinh năm 1969 tại tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh : Đăk Nông; trình độ học vấn: 02/10; nghề nghiệp: Làm nông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Đức C (đã chết), và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1945; gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có chồng là ông Phạm Đình C1 (sinh năm: 1968), và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 19/12/2024, được thay đổi sang biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh cho đến nay. - Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn Q

Địa chỉ: Số B đường T, tổ E, phường B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Quang Văn L
  • Địa chỉ: Bon S, xã Q, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

  • Anh Nguyễn Đình L1
  • Địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Người làm chứng: Anh Phạm Nguyễn Duy V

Địa chỉ: Bon B, xã T, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N và ông Quan Văn L2, sinh năm 1965 và anh Nguyễn Đình L1, sinh năm: 1992 cùng trú tại: Xã Đ, huyện Đ có mối quan hệ quen biết xã hội. Trong năm 2023 và 2024, N nhiều lần cho ông L2, anh L1 vay tiền với lãi suất cao, cụ thể:

Ngày 02/8/2023 N cho ông L2 vay 20.000.000đ, lãi suất 5000đ/01 triệu/ngày, thời hạn vay từ 10 đến 15 ngày. Ngày 27/9/2023, N cho ông L2 vay thêm 40.000.000đ, lãi suất 7000đ/01 triệu/ngày, thời hạn vay 04 tháng. Các lần vay tiền, N đều yêu cầu ông L2 viết giấy vay tiền, nhưng do lãi suất cao, nên N yêu cầu ông L2 không ghi lãi suất vào giấy vay tiền, và tiền lãi N tính lãi cho đến khi ông L2 trả hết nợ.

Ngày 20/11/2024, N và ông L2 tính toán, chốt số nợ là 60.000.000 đồng tiền gốc và 162.340.000đ tiền lãi (trong đó lãi khoản vay ngày 02/8/2023 là 46.700.000 đồng, khoản vay ngày 27/9/2023 là 115.640.000 đồng). Ngày 23/11/2024, ông L2 trả cho N 43.000.000đ tiền gốc. Ngày 12/12/2024 ông L2 trả thêm cho N 41.000.000₫ tiền lãi. Các lần giao nhận tiền, bị cáo và ông L2 đều ghi vào giấy tính tiền do ông L2 cất giữ.

Ngày 25/7/2024, anh L1 vay N số tiền 40.000.000 đồng; ngày 28/7/2024 anh L1 vay thêm 15.000.000đ, ngày 30/7/2024 anh L1 vay thêm 5.000.000 đồng; tất cả số tiền vay trên, N đều tính lãi 5000đ/01 triệu/ngày, cũng như cho ông L2 vay, các lần vay tiền, N đều yêu cầu anh L1 viết giấy vay tiền, nhưng do lãi suất cao, nên N yêu cầu anh L1 không ghi lãi suất vào giấy vay tiền, và lãi N tính cho đến khi anh L1 trả hết nợ.

Ngày 11/12/2024, N và anh L1 tính toán, chốt tổng số nợ là 60.000.000 đồng tiền gốc và 39.000.000 đồng tiền lãi. Ngày 15/12/2024 anh L1 đến nhà, trả cho N số tiền 50.000.000 đồng, gồm 39.000.000 đồng tiền lãi và 11.000.000 đồng tiền gốc. Sau khi nhận tiền, N thấy lực lượng Công an huyện đến, nên chủ động đầu thú và giao nộp các giấy tờ, đồ vật liên quan.

Quá trình điều tra, Bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, đầu thú nộp lại số tiền 95.000.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HSST ngày 7/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Lâm Đồng quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội: "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"

Áp dụng khoản 2 Điều 201; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự

Xử phạt Bị cáo 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 19/12/2024.

Ngày 21-8-2025 Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 27-8-2025 Bị cáo có đơn kháng cáo bổ sung xin được hưởng án treo.

Ban đầu Bị cáo khai số tiền 43.000.000đ là tiền lãi, nhưng sau đó thay đổi lời khai, không thừa nhận số tiền 43.000.000 đồng nhận của ông Quan Văn L2 vào ngày 23/11/2024 là tiền lãi, mà là tiền gốc

Bị cáo nộp lại số tiền 95.000.000 đồng thu lợi bất chính

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật:

Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã thu giữ:

  • - Số tiền 50.000.000 đồng; 01 cuốn vở, có ghi nội dung cho vay tiền;
  • - 01 ĐT N2 (do Nguyễn Thị N giao nộp)
  • - Số tiền 45.000.000 đồng; 01 tờ lịch ghi nội dung vay mượn tiền (thu giữ trong quá trình khám xét)
  • - 01 USB ghi lại nội dung nói chuyện nói về việc vay mượn tiền (do Nguyễn Đình L1 giao nộp)
  • - 01 giấy vay mượn tiền, ghi ngày 27/9/2023, 01 tờ lịch ghi nội dung vay mượn tiền (bản phô tô); 02 giấy tính tiền lãi (do Quan Văn L2 giao nộp)

Tại Cáo trạng số 15/CTr- VKS ngày 07/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk G'Long đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị N, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 07-8-2025 của Toà án nhân dân huyện Đăk G'Long quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Tiếp tục lưu kèm hồ sơ 01 thẻ nhớ; 01 cuốn vở; các giấy vay tiền đã thu giữ;
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Nokia 105 đã thu giữ;
  • - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) do Bị cáo N đã giao nộp;
  • - Truy thu nộp Ngân sách Nhà nước đối với anh Nguyễn Đình L1 số tiền 44.025.000đ (bốn mươi bốn triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng)
  • Bị cáo Nguyễn Thị N phải trả lại cho ông Quan Văn L2 số tiền 9.570.000đ (chín triệu năm trăm bảy mươi nghìn đồng). Bị cáo phải trả lại cho anh Nguyễn Đình L1 số tiền 34.405.000đ (ba mươi tư triệu bốn trăm linh năm nghìn đồng)

Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

Ngày 21-8-2025 Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 27-8-2025 Bị cáo có đơn kháng cáo bổ sung xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm của TAND khu vực 6, tỉnh Lâm Đồng.

Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị N trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo.

Bị cáo đồng ý với luận cứ bào chữa của luật sư không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm hình phạt và hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nhận định như sau:

[1]. Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 07-8-2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng đã kết án bị cáo Nguyễn Thị N về tội: "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự" theo khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy: Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo đã trả lại cho anh Nguyễn Đình L1 số tiền 34.405.000đ và ông Quan Văn L2 số tiền 9.570.000đ theo quyết định của bản án sơ thẩm. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ chấp nhận kháng của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[3]. Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Đối với biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án đối với 01 thẻ nhớ, 01 cuốn vở, các giấy vay tiền đã thu giữ.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia 105 đã thu giữ.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng) do bị cáo N đã giao nộp.

(Có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2025 và giấy ủy nhiệm chi ngày 27/3/2025 của Công an tỉnh Đ với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Đắk Glong cũ, nay là Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Lâm Đồng).

  • - Truy thu nộp ngân sách nhà nước đối với anh Nguyễn Đình L1 số tiền 44.025.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu không trăm hai lăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 201; Điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 308: Sửa bản án sơ thẩm số 10/2025/HS-ST ngày 07-8-2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng.

1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm. Thời hạn chấp hành hình phạt kể từ ngày tuyên án.

Giao Bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lâm Đồng quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện thì thực hiện theo điều 68, 92 của Luật thi hành án hình sự

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ luật thi hành án dân sự từ 02 lần trở lên theo Luật thi hành án hình sự, thì tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án được hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì tòa án buộc người thi hành phải thi hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Đối với biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

  • - Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án đối với 01 thẻ nhớ, 01 cuốn vở, các giấy vay tiền đã thu giữ;
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động;
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng) do bị cáo N đã giao nộp.

(Có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2025 và giấy ủy nhiệm chi ngày 27/3/2025 của Công an tỉnh Đ với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Đắk Glong cũ, nay là Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 – Lâm Đồng).

  • - Truy thu nộp ngân sách nhà nước đối với anh Nguyễn Đình L1 số tiền 44.025.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu không trăm hai lăm nghìn đồng).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND khu vực 6 – Lâm Đồng;
  • - VKSND khu vực 6 – Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Lâm Đồng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa hình sự; Tổ hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Dương Hà Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 250/2025/HS-PT ngày 08/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 250/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger