|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 25/2025/HS-ST
Ngày 13-12-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phàn A Long;
- Bà Mùng Thị Xanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Phùng Văn Chử - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2025, tại Nhà Văn hóa bản H1, xã D, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS, ngày 01 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Danh T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 28/5/1986, tại tỉnh Phú Thọ; số CCCD: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu H, xã Đ, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Phạm Đức C, sinh năm 1947; mẹ đẻ: Trần Thị P, sinh năm 1955; gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ 05; vợ: Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1984 (đã ly hôn); vợ: Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1986; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án số: 24/2018/HSST, ngày 29/5/2018, của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo 07 (Bảy) năm, 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 04/10/2023, Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội lần này, bị cáo chưa được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ, ngày 06/8/2025, Phạm Danh T bắt xe khách đi từ bến xe M lên Lai Châu để tìm mua Heroine sử dụng. Khoảng 07 giờ, ngày 07/8/2025, xe khách đến bến xe khách N, tỉnh Lai Châu. Khi T đi bộ ở khu vực cổng bến xe thì T mua được 02 gói Heroine, được để trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MENTHOL, hết 300.000 đồng, mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Mua được H, T cấu một ít ra sử dụng, số Heroine còn lại, T gói lại và cất giấu vào vào túi quần đang mặc, mục đích để đem về sử dụng dần. Trưa ngày 07/8/2025, T bắt xe khách đi từ N về bến xe L để bắt xe về Hà Nội. Vào hồi 13 giờ 45 phút, cùng ngày 07/8/2025, khi xe khách đi đến km87, quốc lộ A, thuộc bản Phiêng Ban, xã L, tỉnh Lai Châu, tổ Công tác Công an xã L chủ trì, phối hợp với Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Phạm Danh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của Phạm Doạnh T2 là 02 gói chất bột màu trắng, được gói bằng nilon màu hồng, để trong 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MENTHOL. Phạm Danh T khai nhận số chất bột màu trắng là ma túy, loại Heroine của T mua về để sử dụng.
Bản Kết luận giám định số: 670/KL-KTHS, ngày 10/8/2025, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Danh T có khối lượng 0,26 gam, là ma túy, loại: Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 12/CT-VKSKV3, ngày 31 tháng 10 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Phạm Danh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phạm Danh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025, xử phạt bị cáo Phạm Danh T từ 03 (Ba) năm, 6 (Sáu) tháng đến 04 (B) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MENTHOL và vỏ phong bì niêm phong vật chứng. Đối với toàn bộ 0,26 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
qua tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Phạm Danh T đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 13 giờ 45 phút, ngày 07/8/2025, tại km87, quốc lộ A, thuộc bản Phiêng Ban, xã L, tỉnh Lai Châu, tổ công tác Công an xã L chủ trì, phối hợp với Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh L làm nhiệm vụ đã bắt quả tang Phạm Danh T đang tàng trữ trái phép 02 gói chất ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,26 gam. T khai nhận số Heroine bị thu giữ do T cất giấu để sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với người đàn ông bán Heroine trong vụ án này.
Phạm Danh T khai vào ngày 07/8/2025, sau khi mua được Heroine, T đã cấu một ít ra sử dụng, kết quả kiểm tra ma túy trong nước tiểu xác định T dương tính với ma túy. Tuy nhiên, qua xác minh tại nơi Thọ đăng ký hộ khẩu thường trú không có căn cứ xác định tình trạng nghiện chất ma túy đối với T nên hành vi sử dụng chất ma túy của T không cấu tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Năm 2019, bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án nhưng chưa đủ thời gian được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý: 02 mảnh nilon, 01 vỏ bao thuốc lá, vỏ phong bì niêm phong vật chứng, đều là những vật dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với toàn bộ 0,26 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
- Bị cáo Phạm Danh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Danh T: 03 (Ba) năm, 09 (Chín) tháng tù.
Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 07/8/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục tạm giữ vật chứng là 02 mảnh nilon, 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SAIGON MENTHOL, vỏ phong bì niêm phong vật chứng (Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 14, lập hồi 16 giờ 10 phút, ngày 03/11/2025, tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Lai Châu).
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 25/2025/HS-ST ngày 13/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 25/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ trái phép CMT