TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 249/2025/HS-ST | Ngày: 24/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Vinh
Ông Lê Công Quyền
Ông Lê Đình Ty
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà – Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Bá Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 232/2025/TLST-HS ngày 25/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2025/QĐXXST-HS ngày 10/12/2025 đối với các bị cáo:
- Hoàng Văn V - sinh ngày 21/5/2003, tại tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số: [...]; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, tỉnh Lạng Sơn; Chỗ ở: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T (đã chết) và bà Lý Thị T1; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/11/2025, bị cáo Hoàng Văn V bị Công an tỉnh L khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”theo quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS; Tạm giữ: ngày 11/7/2025; Tạm giam: ngày 17/7/2025; Có mặt.
- Đỗ Văn Đ - sinh ngày 24/10/1997tại tỉnh Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...]; Nơi cư trú: Thôn M, phường N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn K và bà Nguyễn Thị P; có vợ là Vi Thị H (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 11/7/2025; tạm giam: ngày 17/7/2025; có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo:
- - Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn V: Ông Nguyễn Gia T2, sinh năm 1963, Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (Địa chỉ: G L, phường H, tỉnh Thanh Hóa); có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Văn Đ: Ông Mai Văn B, sinh năm 1959, Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (Địa chỉ: G L, phường H, tỉnh Thanh Hóa); có mặt.
1
* Người làm chứng: đều vắng mặt.
- Anh Chu Văn C, sinh năm 1999, trú tại: Phố A, phường Q, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Sáng Mí C1, sinh năm 2006, trú tại: Thôn C, xã S, tỉnh Tuyên Quang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h30' ngày 09/07/2025, anh Đinh Quốc V1, sinh năm 1988, trú tại Lô A B, phường H, tỉnh Thanh Hóa làm nghề lái xe taxi ghép đến trụ sở Công an phường H giao nộp 01 hộp giấy đựng: 01 túi nilon màu trắng bên trong là hộp giấy hình vuông kích thước khoảng 10x10x10cm, bên trong có túi nilon màu trắng kích thước 20x10cm đựng 06 túi nilon màu trắng mỗi túi đều chứa các viên nén màu xanh. Anh V1 khai báo có một nam thanh niên có số điện thoại 0919.754.xxx thuê anh V1 mang hộp giấy này đến thành phố B (cũ). Công an phường H biên bản sự việc, tiếp nhận vật chứng theo quy định của pháp luật.
Qua xác minh số điện thoại, lực lượng Công an xác định Đỗ Văn Đ là người đã nhờ anh V1 đem hộp giấy đựng ma túy đưa cho Hoàng Văn V. Ngày 10/7/2025, Đỗ Văn Đ đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 10/7/2025, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn V, tại Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh thu giữ: 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 10x15cm chứa các viên nén màu xanh.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn V, tại phòng A, tòa G, chung cư E, tổ dân phố Y, phường N, tỉnh Bắc Ninh thu giữ: 01 túi nilon màu trắng khoảng 3x5cm chứa 01 viên nén màu tím tại vị trí nóc tủ lạnh; 01 hộp giấy màu vàng xanh kích thước khoảng 10x10x25cm chứa 01 cân điện tử màu trắng, 20 vỏ túi nilon màu trắng kích thước 3x5cm, 25 vỏ túi nilon màu trắng kích thước 2x2cm và 10 vỏ túi nilon màu trắng kích thước 5x8cm.
Ngày 11/7/2025, Hoàng Văn V đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân.
Tại bản kết luận giám định số 2453/KL-KTHS ngày 15/7/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh T, kết luận về tang vật do anh Đinh Quốc V1 giao nộp: 108 viên nén màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 63,360 gam, loại MDMA. (Trung bình mỗi viên nén màu xanh có khối lượng 0,586667gam).
Tại bản kết luận giám định số 2478/KL-KTHS ngày 16/7/2025 của Phòng K1 - Công an tỉnh T, kết luận về tang vật thu giữ khi khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn V:
- - Các viên nén màu xanh của túi nilon màu xanh kích thước khoảng 10x20cm là ma túy, có tổng khối lượng 71,266 gam loại MDMA;
- - 01 viên nén màu tím là ma túy, có khối lượng 0,466 gam, loại Methamphetamine.
Hành vi của các bị cáo cụ thể như sau:
2
Khoảng tối ngày 29/6/2025, Chu Văn C, sinh năm 1999, trú tại: Phố A, phường Q, tỉnh Thanh Hóa sử dụng tài khoản Zalo “Cường M” gọi đến tài khoản Z “Hoàng Ca” của Hoàng Văn V để hỏi mua 8.000.000₫ ma túy thuốc lắc và Ketamine. V sẽ mang ma túy vào Thanh Hóa để giao cho C và nhận tiền mặt. Đến khoảng 16h ngày 30/6/2025, Đỗ Văn Đ sử dụng tài khoản Telegram “Hiphop T” gọi điện đến tài khoản T3 “Đ” của Hoàng Văn V hỏi mua 130 viên “Cúc” (ma túy thuốc lắc) và 25 gam “Kem” (ma túy loại Ketamine). V và Đ thống nhất giá bán 130 viên “Cúc” là 15 triệu đồng và 25 gam Kem là 23.400.000 đồng. V sẽ mang ma túy vào Thanh Hóa giao cho Đ và nhận tiền mặt. Số tiền như đã thỏa thuận trên đã bao gồm tiền taxi V đi từ Bắc Ninh vào Thanh Hóa để giao ma túy cho Đ. Sau đó, V gọi điện rủ Sáng Mí C1, sinh năm 2006, trú tại: Thôn C, xã S, tỉnh Tuyên Quang (C1 hiện đang ở tại phòng A, tòa G1, chung cư E, Tổ dân phố Y, phường N, tỉnh Bắc Ninh) cùng đi vào Thanh Hóa chơi.
Khoảng 20h ngày 30/6/2025, V bắt xe taxi đến đón C1 tại chung cư E rồi cả 2 đi vào Thanh Hóa. Trên xe taxi, C1 ngồi ở ghế phụ lái, V ở hàng ghế sau. Khoảng 23h cùng ngày, xe taxi chở V, C1 đến đoạn đường gần quán karaoke nơi Chu Văn C làm thì dừng xe để C lên xe. C đưa cho V 08 triệu đồng rồi V lấy túi nilon chứa ma túy đưa cho C, C cầm lấy túi ma túy bỏ vào túi quần, xuống xe đi bộ về phòng trọ.
Sau khi đã đưa ma túy cho C, V tiếp tục hướng dẫn taxi đi theo định vị mà Đ gửi trước đó. Khoảng 02 giờ ngày 01/7/2025, xe taxi đến khu vực gần cây xăng Q ở đường V thuộc phường N (vị trí mà Đ gửi định vị qua cho V trước đó), V nói taxi dừng lại cho V xuống xe để đi vệ sinh. V cầm hộp bìa cứng có chứa ma túy đi ra phía sau xe ô tô khoảng 100m giấu hộp đựng ma túy xuống bụi cỏ ven đường, rồi quay lại đứng cách xe taxi khoảng 10m chờ Đ đến. Khoảng 10 phút sau, Đ điều khiển xe mô tô loại Wave tối màu, mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang đến gặp V. Đ lấy trong người ra số tiền 38.400.000đ đưa cho V, V nói với Đ "em để ở kia" đồng thời chỉ tay về hướng cất giấu ma túy. Đ đi lại vị trí V chỉ và lấy hộp ma túy bỏ vào cốp xe rồi đi về nhà. Giao dịch mua bán ma túy xong, V bảo tài xế quay lại phường Đ, tỉnh Thanh Hóa đón C cùng đi ăn đêm. Nhưng do đêm muộn, không còn quán nào mở nên V nói taxi chở V và C1 về Bắc Ninh.
Khoảng ngày 06/7/2025, V lấy toàn bộ số túi nilon, 01 cân điện tử và 01 viên ma túy loại thuốc lắc hình tam giác màu tím bỏ vào người và đến phòng của C1 tại chung cư E chơi. Trong thời gian ở tại phòng của C1, nhân lúc không có ai để ý, V lấy viên ma túy hình tam giác, màu tím cất giấu trên nóc tủ lạnh và cân điện tử, các vỏ túi nilon cất giấu trong hộp giấy cứng tại kệ tủ ti vi trong phòng. Đến ngày 7/7/2025, V ra về.
Đối với Đỗ Văn Đ, sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu số ma túy trên tại phòng ngủ riêng của mình. Đến khoảng ngày 05/7/2025, Đ khai nhận, Đ đã bán cho 01 người đàn ông không rõ thông tin lai lịch qua Telegram 22 viên thuốc lắc và 25 gam ketamine với giá 21.400.000đ tại cây xăng Q. Tuy nhiên sau đó, người đàn ông này có liên lạc lại với Đ phàn nàn về việc ma túy kém chất lượng nên Đ đã liên hệ qua telegram cho V nói ma túy thuốc lắc kém chất lượng và xin đổi lại. V
3
đồng ý và bảo Đ gửi xe ra Bắc Ninh cho V, V sẽ mang đi đổi rồi mang vào giao lại cho Đ.
Đến ngày 09/7/2025, Đ đóng gói toàn bộ số ma túy còn lại (108 viên ma túy thuốc lắc) vào trong hộp giấy đưa cho anh Đinh Quốc V1 để nhờ anh V1 chuyển cho Hoàng Văn V. Khi nhận được hộp giấy hình vuông mà Đ gửi nghi là hàng cấm nên anh Đinh Quốc V1 đã đến Công an phường H trình báo và giao nộp.
Về nguồn gốc ma túy bán cho Đ và C, Hoàng Văn V khai nhận, khoảng cuối tháng 05/2025, V vào mạng xã hội telegram tìm mua ma túy thuốc lắc và Ketamine về bán kiếm lời. Sau đó, V có đặt mua được 10 viên thuốc lắc và 01 gói ít ketamine của 01 tài khoản telegram giới thiệu tên là H1 với giá 8.000.000đ. Hai bên thỏa thuận giao dịch tại khu vực đường Đ, tỉnh Bắc Ninh. Tại khu vực Đ, V gặp một người đàn ông mặc áo chống nắng tối màu, đeo khẩu trang kín mặt, cao khoảng 1m67, dáng người gầy. Thấy V, người này vẫy lại và hỏi: “có phải mua C2, Kem không?”, V trả lời: “đúng rồi”, người đàn ông nói: “đưa tiền đây”, V lấy ra số tiền 8.000.000đ đưa cho người này, người đàn ông cầm tiền và đưa cho V 01 túi nilon màu đen. V cầm lấy mở ra kiểm tra bên trong có 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip chứa 10 viên màu tím hình đầu lâu và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa ma túy Ketamine. V cất giấu số ma túy trên vào túi quần và đi về phòng trọ. Thấy việc mua ma túy thuận lợi, ngày hôm sau V tiếp tục liên hệ đối tượng H1 để hỏi mua 300 viên Cúc và 01 túiKem.Hân báo giá là 150.000đ/viên Cúc và 340.000đ/gam Kem. Người này báo hiện chỉ còn 255 viên Cúc và 25 gam Kem,V đồng ý mua. Sau đó, tại khu vực Đ, V đưa cho người này 46.750.000đ rồi lấy ma túy đựng trong 01 túi nilon màu đen. V đem về phòng kiểm tra thì thấy bên trong có 255 viên Cúc hình tam giác màu xanh; 01 viên Cúc hình tam giác màu tím và 01 túi ketamine (V dùng cân điện tử cân lại thì thấy khối lượng là 25g). Khi mua được ma túy, V mua cân điện tử và túi nilon về để mục đích chia ma túy bán kiếm lời.
Đối với Đỗ Văn Đ, sau khi đầu thú tại Công an phường H, Đ khai ngày 05/7/2025 mua 108 viên thuốc lắc với giá 17.600.000đ. Do ban đầu bị phát hiện đang gửi 108 viên thuốc lắc cho V nên Đ chỉ khai nhận mua như trên để nhẹ tội. Sau đó, tại Cơ quan điều tra, do biết không thể chối tội Đ đã thừa nhận khoảng 02h ngày 01/7/2025, Đ mua của Hoàng Văn V 130 viên thuốc lắc và 25gam ketamine với giá 38.400.000đ phù hợp lời khai của V. Đ đã bán 22 viên thuốc lắc và 25 gam Ketamine, còn lại 108 viên thuốc lắc gửi lại cho V. Tuy nhiên sau đó, Đ đã thay đổi một phần lời khai. Đ khai nhận chỉ mua của V 108 viên thuốc lắc với giá 38.400.000đ vào khoảng 11h ngày 30/6/2025 và chưa bán ma túy cho ai. Về lí do thay đổi, Đ khai do quá trình bị tạm giam tại Trại tạm giam các đối tượng chung buồng hỏi về khung khoản, Đ có nói ở khoản 4 nên các đối tượng nói khung khoản cao nên xúi Đ thay đổi lời khai.
Trong quá trình điều tra, Đỗ Văn Đ thừa nhận chữ ký, chữ viết trong các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung là tự nguyện viết và ký tên, không bị ép buộc. Việc Đ thay đổi lời khai liên tục nhằm quanh co chối tội, trốn tránh trách nhiệm hình sự.
* Thu giữ, xử lý vật chứng:
4
- Thu giữ của Hoàng Văn V: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 16, màu xanh, gắn số sim số 0869306357.
- Thu giữ của Đỗ Văn Đ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, gắn sim số 0919754626 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu đen, gắn sim số 0921364444.
Toàn bộ số ma túy thu giữ còn lại sau giám định; 03 điện thoại di động; 01 cân điện tử và các túi nilon, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
* Các tình tiết khác liên quan đến vụ án:
- - Đối tượng tên H1 theo Hoàng Văn V khai nhận đã bán ma túy cho V tại khu vực đường Đ, tỉnh Bắc Ninh vào khoảng tháng 5/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nên không xử lý trong vụ án này.
- - Đối với người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) Đỗ Văn Đ khai nhận mua 22 viên ma túy thuốc lắc và 25 gam Ketamine của Đ vào ngày 05/7/2025, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định.
- - Đối với Chu Văn C, sau khi mua được ma túy của Hoàng Văn V, C đã sử dụng hết số ma túy, gói ma túy V bán cho C khác ma túy bán cho Đ nên không có căn cứ xác định được khối lượng. Quá trình điều tra xác minh, Chu Văn C không thuộc đối tượng quản lý theo Luật phòng chống ma túy tại địa phương, nên không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a BLHS. Ngày 08/11/2025, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Chu Văn C về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- - Đối với Sáng Mí C1, quá trình điều tra xác định, C1 không biết và không liên quan đến hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Hoàng Văn V tại tỉnh Thanh Hóa và việc V cất giấu ma túy tại phòng A, tòa G, chung cư E. Cơ quan điều tra không xử lý Sáng Mí C1 trong vụ án này.
- - Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave tối màu Đỗ Văn Đ điều khiển đến khu vực cây xăng Q để giao dịch mua bán ma túy với Hoàng Văn V vào ngày 01/7/2025, Đ khai nhận dã bán cho người đàn ông khi đi uống nước ở ven đường với số tiền 1.500.000đ.
* Tại bản Cáo trạng số 33/CT-VKS-P1 ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Hoàng Văn V và Đỗ Văn Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 20 năm tù.
- Áp dụng: Điểm h khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 20 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
5
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định, 01 cân điện tử và toàn bộ túi ni lông và vỏ túi ni lông; Tịch thu để sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 16, màu xanh của bị cáo V và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen của Đỗ Văn Đ; trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23, màu đen cho Đỗ Văn Đ. Truy thu của bị cáo V 38.400.000 đồng, bị cáo Đ 21.400.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
- - Người bào chữa của bị cáo V đồng ý với tội danh và điều luật mà VKS truy tố. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo vì bị cáo đã thành khẩn khai báo, có hoàn cảnh khó khăn, đầu thú. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Người bào chữa của bị cáo Đ đề nghị HĐXX xem xét thời gian mua bán ma túy giữa bị cáo V và bị Đ vào đêm ngày 30/6/2025 hay rạng sáng ngày 01/7/2025 để áp dụng Bộ luật hình sự tương ứng đối với bị cáo Đ.
- - Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng: các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Người bào chữa cho bị cáo Đ đề nghị xem xét thời gian mua bán ma túy giữa bị cáo V và bị cáo Đ. Xét thấy, lời khai của các bị cáo Đ và V tại cơ quan điều tra cùng Biên bản đối chất ngày 29/10/2025 giữa bị cáo V và bị cáo Đ có sự chứng kiến của hai người bào chữa cho 2 bị cáo, đều thống nhất thời gian mua bán ma túy khoảng 2 – 3 giờ sáng ngày 01/7/2025.
- Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với những vật chứng thu được cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án; thấy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02h ngày 01/7/2025, Hoàng Văn V có hành vi bán trái phép 130 viên ma túy thuốc lắc có khối lượng 76,26 gam loại MDMA và 25 gam ma túy loại Ketamine cho Đỗ Văn Đ. Cơ quan điều tra đã thu giữ được 108 viên ma túy thuốc lắc (khối lượng 63,360 gam loại MDMA) trong tổng số 130 viên thuốc lắc mà V bán cho Đ.
6
Khoảng 23h ngày 30/6/2025, V còn có hành vi bán ma túy MDMA và 01 túi Ketamine cho Chu Văn C với giá 8.000.000 đồng. Ngoài ra, V còn có hành vi cất giấu 71,266 gam ma túy loại MDMA và 0,466 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy, Hoàng Văn V phải chịu trách nhiệm về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là 147,526 gam ma túy loại MDMA;25 gam Ketamine và 0,466 gam Methamphetamine (tương đương với 172,992 gam MDMA hoặc Ketamine hoặc Methamphetamine).
Đỗ Văn Đ mua 130 viên ma túy thuốc lắc có khối lượng 76,26 gam loại MDMA và 25 gam ma túy loại Ketamine của Hoàng Văn V để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy, Đỗ Văn Đ phải chịu trách nhiệm về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là 101,260 gam MDMA hoặc Ketamine.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Hoàng Văn V có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS (sửa đổi, bổ sung năm 2017), hành vi của Đỗ Văn Đ có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS (Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025). Do đó,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo tại bản cáo trạng là đúng pháp luật.
[3]. Tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an chung, cần phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
[4]. Trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Các bị cáo phải chịu hình phạt tương ứng với số ma tuý mà bản thân mua bán. Bị cáo V phải chịu trách nhiệm về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng tương đương 172,992 gam MDMA hoặc Ketamine hoặc Methamphetamine. Bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy với tổng khối lượng 101,26 gam MDMA hoặc Ketamine.
Bị cáo Đỗ Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Hoàng Văn V phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội 2 lần trở lên; căn cứ điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Với tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thì việc cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt cần giảm nhẹ một phần TNHS đối với các bị cáo vì tại các cơ quan pháp luật các bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú; căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo Hoàng Văn V có thêm tình tiết giảm nhẹ là có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3; bị cáo Đỗ Văn Đ tặng quà cho các cháu L trẻ em SOS trị giá 1.000.000 đồng, ông nội và ông bà ngoại bị cáo Đ là người có công với cách mạng; căn cứ khoản 2 Điều 51 BLHS.
[5].Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS để xử lý các vật chứng sau:
7
Số ma túy thu của các bị cáo được niêm phong bằng phong bì thư là vật nhà nước cấm lưu hành, sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 16 thu của bị cáo V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS thu của bị cáo Đ; đây là điện thoại các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu để sung công quỹ Nhà nước; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A23 thu của Đ, không liên quan đến vụ án nên tuyên trả lại cho bị cáo Đ.
Đối với 01 cân điện tử, và các túi nilon không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu huỷ.
Đối với số tiền 38.400.000 đồng của bị cáo V; 21.400.000 đồng của bị cáo Đ là tiền do phạm tội mà có nên truy thu của 2 bị cáo để sung quỹ Nhà nước.
[6]. Hình phạt bổ sung: Bị cáo Hoàng Văn V là người dân tộc Nùng, cư trú tại thôn H, xã T, tỉnh Lạng Sơn là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng núi có kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo Đỗ Văn Đ hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không phạt tiền đối với các bị cáo.
[7]. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Văn V không phải nộp án phí HSST (do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn); bị cáo Đỗ Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn V và Đỗ Văn Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào Điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS (Luật sửa đổi, bổ sung 2017); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn V 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 11/7/2025.
- Căn cứ vào Điểm h khoản 4 Điều 251 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025); điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn Đ 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 11/7/2025.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 cân điện tử, 20 túi nilon và 35 vỏ túi nilon.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động (I, Iphone XS).
- - Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn Đ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A23.
8
- - Truy thu của bị cáo V 38.400.000 đồng, bị cáo Đ 21.400.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
(Toàn bộ vật chứng gồm ma túy, điện thoại, 01 cân điện tử và các túi ni lông trên đang tạm giữ tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 21/2026/TV-THADS ngày 26/11/2025).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hoàng Văn V không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Đỗ Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
9
Bản án số 249/2025/HS-ST ngày 24/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 249/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý
