Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 -THÁI NGUYÊN

Bản án số: 24/2025/HSST

Ngày 17/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt Thu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hứa Đình Hiên

2. Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lộc – Thư ký của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Dinh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLST-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXHS ngày 02 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lục Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/6/1989 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã T, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã C, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lục Văn H1 (đã chết) và bà: Hoàng Thị T; vợ: Nguyễn Thị N; con: Có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 11/5/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.

  1. Nông Văn C; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/10/1978 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn K, xã C, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nông Văn S (đã chết) và bà: Nông Thị L (đã chết); vợ: Đặng Thị H2; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2007; tiền sự: Không.

Tiền án: 01. Năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên) xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 04/2022/HSST ngày 16/11/2022. Ngày 17/12/2023 chấp hành án xong, chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 11/5/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên toà.

  1. Đinh Lâm L1; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/7/1992 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Đinh Lâm P và bà: Nguyễn Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Kạn (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên) xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 04/2015/HSST ngày 29/12/2015, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 10/5/2025 đến ngày 19/5/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giữ sang biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

  1. Lục Văn H3; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/10/1987 tại tỉnh Thái Nguyên; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn H, xã C, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lục Văn H1 (đã chết) và bà: Hoàng Thị T; vợ: Hầu Thị K; con: Có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 11/5/2025 đến ngày 19/5/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giữ sang biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Dương Ngọc A; sinh năm 2005; nơi cư trú: Tổ A, phường G, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Anh Lục Văn N1; sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Anh Nông Văn D; sinh 1986; nơi cư trú: Thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Chị Phùng Thị Q; sinh năm 1987; trú tại: Thôn B, xã C, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  5. Anh Lý Quý D1; sinh năm 1982; trú tại: Thôn A, xã C, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  6. Cháu Lục Tâm A1; sinh ngày 10/12/2012; trú tại: Thôn H, xã C, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  7. Cháu Lục Tâm N2; sinh ngày 10/12/2012; trú tại: Thôn H, xã C, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Học sinh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của các cháu Lục Tâm A1, L Như: Chị Lục Thị H4; sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn H, xã C, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời là người làm chứng:

  1. Anh Hoàng Văn C1, sinh năm 1986; trú tại: Thôn B, xã C, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Anh Lục Văn S1, sinh năm 1980; trú tại: Thôn N, xã T, tỉnh Thái Nguyên. nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

*Người tham gia tố tụng khác có mặt tại điểm cầu thành phần:

  1. Ông Hoàng Quốc H5 – Trung tá, Đội cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Số 2, Công an tỉnh T.
  2. Ông Trần Xuân C2 –Thiếu Tá, Đội cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Số 2, Công an tỉnh T.
  3. Ông Bàn Ngọc T1 – Hạ sĩ, Đội cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Số 2, Công an tỉnh T.
  4. Ông Hoàng Minh T2 - Hạ sĩ, Đội cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Số 2, Công an tỉnh T.
  5. Ông Phạm Quốc T3 - Hạ sĩ, Đội cảnh sát bảo vệ - Trại tạm giam Số 2, Công an tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ, 00 phút, ngày 10/5/2025 tại thôn H, xã C, tỉnh Thái Nguyên Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh T), phát hiện Lục Văn N1, trú tại thôn B, xã T, tỉnh Thái Nguyên đang điều khiển xe máy chở phía sau Đinh Lâm L1, trú tại thôn T, xã T, tỉnh Thái Nguyên. Qua kiểm tra tạm giữ của N1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, BKS 97B1–144.18, thu giữ tại túi quần sau bên phải L1 đang mặc 01 gói dạng túi khóa zip bên trong chứa chất bột màu trắng và màu hồng dạng cục và bột nghi là ma túy, tiến hành niêm phong vào phong bì ký hiệu L1, thu giữ tại túi quần trước bên phải đang mặc 01 xi lanh, 02 lọ nước cất tiến hành niêm phong vào trong phong bì ký hiệu L2. Đinh Lâm L1 khai vào khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 10/5/2025 L1 nhờ N1 chở xuống tổ H xã C, tỉnh Thái Nguyên có chút việc, khi đến gần nhà Lục Văn H tại tổ H xã C, L1 bảo anh N1 dừng xe lại rồi L1 đi vào nhà H mua 500,000đ (Năm trăm nghìn đồng) được 01 gói ma túy, sau khi mua được ma túy L1 đi ra ngồi lên xe rồi bảo N1 chở về khi ra đến gần đường Q thì bị Cơ quan Công an kiểm tra thu giữ.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lục Văn H tại thôn H, xã C, tỉnh Thái Nguyên phát hiện trong nhà H gồm có Nông Văn C - sinh năm 1978, trú tại thôn K, xã C, tỉnh Thái Nguyên; Hoàng Văn C1 - sinh năm 1986, trú tại thôn B, xã C, tỉnh Thái Nguyên; Lục Văn H3 - sinh năm 1987, trú tại thôn H, xã C, tỉnh Thái Nguyên; Lục Văn S1 - sinh năm 1980, trú tại thôn N, xã T, tỉnh Thái Nguyên và Dương Ngọc A - sinh năm 2005, trú tại tổ A, phường G, tỉnh Thái Nguyên:

Thu giữ của Lục Văn H tại túi quần của H 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu A13, thu tại phòng khách 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng), niêm phong trong phong bì ký hiệu B28; 01 ĐTDĐ Oppo A3X gắn thẻ sim 0385.725.313 và 0965.463.190 niêm phong trong phong bì ký hiệu A14; 01 cân điện tử màu đen; 01 chiếc kéo cán màu đỏ; 02 chiếc coóng cắm ống nhựa để sử dụng ma túy; 01 túi zip màu đỏ bên trong có chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu B20; 01 túi nilon bên trong có 07 viên nén màu hồng niêm phong trong phong bì ký hiệu B24; 01 túi nilon bên trong có chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu B25; 01 túi nilon bên trong có chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu B26; 04 túi nilon bên trong có 03 gói chất bột màu trắng, 01 gói có chật bột màu hồng niêm phong trong phong bì ký hiệu B27; 18 viên nén và 01 gói chứa chất bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu B30 gửi giám định, không hoàn lại; 01 túi nilon bên trong có 16 túi chất cục, bột màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu B31; 01 ĐTDĐ cảm ứng nhãn hiệu Huawei màu đen không gắn thẻ sim của Lục Tâm A1, Lục Tâm N2 (cháu của H), niêm phong trong phong bì ký hiệu B35; 01 ĐTDĐ cảm ứng nhãn hiệu Samsung màu trắng gắn thẻ sim 0392.805.646 của Lý Quý D1, niêm phong trong phong bì B36; 01 ĐTDĐ bàn phím nhãn hiệu Viettel màu đen gắn thẻ sim 0398.641.962 của Lục Tâm A1, Lục Tâm N2 (cháu của H), niêm phong trong phong bì B37; Thu giữ của Nông Văn C 6.360.000₫ (Sáu triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng), niêm phong trong phong bì ký hiệu C6; 01 ĐTDĐ cảm ứng nhãn hiệu Oppo A3 màu trắng không gắn thẻ sim, niêm phong trong phong bì ký hiệu C7; 01 túi zip bên trong có 13 gói nhỏ chất bột màu trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu B29; 01 túi nilon màu xanh chứa nhiều giấy tờ hình thù khác nhau, niêm phong trong phong bì ký hiệu B32; Chất cục, bột màu trắng thu trên giường, niêm phong trong phong bì ký hiệu B33; 01 túi nilon khóa zip bên trong có chất bột màu trắng, niêm phong trong phong bì ký hiệu B34; Thu giữ của Hoàng Văn C1 190.000đ (Một trăm chín mươi nghìn đồng), niêm phong trong phong bì ký hiệu T2; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng đồng, trắng gắn thẻ sim số 0332.382.693 niêm phong trong phong bì ký hiệu T3; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter MX màu đỏ đen, BKS: 29C1 – 152.24; 01 gói ni lông vỏ xi lanh bên trong có chất bột màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1 không xác định được khối lượng. Thu giữ của Lục Văn S1 01 gói ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu S9; 01 ví giả da màu đen bên trong có số tiền 190.000đ (Một trăm chín mươi nghìn đồng), niêm phong trong phong bì ký hiệu S10; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, mặt kính phía sau bị vỡ gắn sim số 0977.931.112 niêm phong trong phong bì ký hiệu S11; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đen, BKS: 97AC– 007.83; 01 xi lanh đã qua sử dụng, 01 túi vỏ bơm kim tiêm và 01 lọ nước cất đã qua sử dụng, niêm phong trong phong bì ký hiệu S12; Thu giữ của Lục Văn H3 01 ví giả da màu đen, bên trong có số tiền 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu H4; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Realme màu đen gắn sim số 0366. 569.129 niêm phong trong phong bì ký hiệu H5; 01 gói ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu H8; Thu giữ của Dương Ngọc A 01 gói được gói bằng tờ tiền 5000đ (Năm nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký hiệu B15; 01 gói được gói bằng tờ tiền 1000₫ (Một nghìn đồng) niêm phong trong phong bì ký

hiệu B16; 02 lọ Pot để hút màu xanh dương và 01 lọ P1 dùng một lần màu đỏ hình trụ tròn niêm phong trong phong bì ký hiệu B17; 01 lọ chứa dung dịch màu vàng trên lọ có chữ “Collydexa gold” có thể tích 4,2ml, niêm phong trong các phong bì ký hiệu B18; 01 viên màu vàng bên trong túi màu cam niêm phong trong phong bì ký hiệu B19; 2.000.000₫ (Hai triệu đồng); 01 ĐTDĐ bàn phím nhãn hiệu Masstel màu xanh dương gắn sim số 0359.139.076 và 0387.485.607; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12 promax màu vàng đồng gắn sim số 0349.250.663; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen đã vỡ màn hình gắn sim số 0363.858.552; 01 túi sách giả da.

Tiến hành cân xác định khối lượng ma túy thu giữ của Đinh Lâm L1 trong phong bì niêm phong L1 là 0,30g (không phẩy ba không gam), sau cân niêm phong lại trong phong bì ký hiệu M1, vỏ phong bì L1 và túi khóa zip cũ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2; Khối lượng ma túy thu giữ của của Lục Văn H3 trong phong bì ký hiệu H8 có khối lượng 0,12g (không phẩy một hai gam), sau cân niêm phong lại trong phong bì ký hiệu N1, vỏ phong bì H8 và giấy màu nâu cũ niêm phong trong phong bì N2. Cân xác định khối lượng ma túy thu giữ của Lục Văn H trong các phong bì niêm phong B20, B24, B25, B26, B27 (trong phong bì ký hiệu B27 có 04 (bốn) gói ni lông chứa chất bột màu trắng), B30, B31. Tổng khối lượng 9,31g (chín phẩy ba mốt gam), sau cân niêm phong lại trong các phong bì M3, M4, M5, M6, M7, M8, M9, K7, K9, K11; Tất cả các vỏ phong bì, bao gói niêm phong cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu M10, K8, K10, K12. Cân xác định khối lượng ma túy thu giữ của Nông Văn C trong các phong bì ký hiệu trong phong bì ký hiệu B29, B33, B34 tổng khối lượng 4,66g (bốn phẩy sáu sáu gam), sau cân niêm phong lại trong các phong bì ký hiệu Y1, Y2, K13; vỏ phong bì, bao gói niêm phong cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu Y3, K14. Cân xác định khối lượng ma túy thu giữ của Lục Văn S1 trong phong bì ký hiệu S9 có khối lượng 0,05g (không phẩy không năm gam), sau cân niêm phong lại trong các phong bì ký hiệu Z1, vỏ phong bì và giấy gói cũ niêm phong trong phong bì Z2. Cân xác định khối lượng ma túy thu giữ của Dương Ngọc A trong các phong bì ký hiệu B15, B16, B19 có tổng khối lượng 0,49g (không phẩy bốn chín gam), sau cân niêm phong lại trong phong bì ký hiệu K1, K3, K5, vỏ phong bì ký B15,B16,B19 và 02 tờ tiền cũ, túi ni lông cũ niêm phong trong phong bì ký hiệu K2,K4,K6. Đối với lọ chứa dung dịch màu vàng nghi là ma túy dạng lỏng có thể tích 4,2mL được niêm phong trong phong bì ký hiệu B18 gửi V - Bộ C4 giám định; Số ma túy thu giữ của Hoàng Văn C1 trong phong bì T1 không xác định được khối lượng.

Tại Bản Kết luận giám định số 148/KL-KTHS ngày 16/5/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • - Mẫu chất màu trắng, màu hồng dạng cục và bột trong phong bì niêm phong ký hiệu M1 thu giữ của Đinh Lâm L1 là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 và loại Methamphetamine có khối lượng là 0,30g (không phẩy ba không gam).
  • - Mẫu chất màu hồng bám dính trong phong bì ký hiệu T1 của Hoàng Văn C1 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine.
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu N1 của Lục Văn H3 gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 0,12g (không phẩy một hai gam).
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu Z1 của Lục Văn S1 gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 0,05g (không phẩy không năm gam).
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu K1 của Dương Ngọc A gửi giám định là ma túy loại Ketamine có khối lượng là 0,11g (không phẩy một một gam).
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu K3 của Dương Ngọc A gửi giám định là ma túy loại Ketamine có khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam).
  • - 01 (một) viên nén màu vàng trong phong bì ký hiệu K5 của Dương Ngọc A gửi giám định là ma túy loại Ketamine có khối lượng là 0,36g (không phẩy ba sáu gam).
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu K7 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 0,73g (không phẩy bẩy ba gam).
  • - 07 (bẩy) viên nén hình trụ màu hồng trong phong bì ký hiệu M3 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Methaphetamine có khối lượng là 0,66g (không phẩy sáu sáu gam).
  • - Mẫu chất màu trắng, màu hồng dạng bột trong phong bì ký hiệu M4 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 và loại Methamphetamine có khối lượng là 0,25g (không phẩy hai năm gam).
  • - Không tìm thấy thành phần các chất ma túy trong mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu M5 của Lục Văn H gửi giám định có khối lượng là 1,81g (một phẩy tám một gam)
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu M6 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 0,36g (không phẩy ba sáu gam).
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột trong phong bì ký hiệu M7 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 0,37g (không phẩy ba bẩy gam).
  • - Mẫu chất màu trắng, màu hồng dạng bột trong phong bì ký hiệu M8 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 0,26g (không phẩy hai sáu gam).
  • - Mẫu chất màu trắng, màu hồng dạng bột trong phong bì ký hiệu M9 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 và loại Methaphetamine có khối lượng là 0,09g (không phẩy không chím gam).
  • - Mẫu chất màu trắng, màu hồng dạng bột trong phong bì ký hiệu K9 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 0,02g (không phẩy không hai gam).
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột và cục trong phong bì ký hiệu K11 của Lục Văn H gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 4,86g (bốn phẩy tám sáu gam).
  • - 18 (mười tám) viên nén hình trụ tròn màu hồng trong phong bì ký hiệu K9 của Lục Văn H là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng là 1,71g (một phẩy bẩy một gam).
  • - Mẫu chất màu trắng, màu hồng dạng bột trong phong bì ký hiệu Y1 của Nông Văn C gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 1,47g (một phẩy bốn bẩy gam).
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột và cục trong phong bì ký hiệu Y2 của Nông Văn C gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 1,10g (một phẩy một không gam).
  • - Mẫu chất màu trắng dạng bột và cục trong phong bì ký hiệu K13 của Nông Văn C gửi giám định là ma túy loại Heroine, có tên khoa học là D2 có khối lượng là 2,09g (hai phẩy không chín gam).

Toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong lại vào phong bì mới ký hiệu T72 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Tại Bản Kết luận giám định số 3917/KL-KTHS ngày 23/5/2025 của V kết luận: Tìm thấy các chất ma túy MDMB-4en-PICANA và MDMB-ICANA trong mẫu dung dịch màu vàng trong phong bì ký hiệu B18 của Dương Ngọc A gửi giám định: Hàm lượng (nồng độ) chất ma túy MDMB-4en-PICANA là 10,407mg/ml; Khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PICANA là 0,043gam. Hiện tại, V chưa có mẫu chuẩn định lượng MDMB-INACA nên không giám định được hàm lượng (nồng độ), khối lượng MDMB-INACA trong mẫu gửi giám định. Đối tượng giám định còn lại sau giám định và các vỏ bao gói mẫu được hoàn lại trong niêm phong số 3917 /KL-KTHS.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo Lục Văn H thừa nhận: Do mẹ của H đi làm ăn xa, H ở và quản lý ngôi nhà tại tổ H, xã C, tỉnh Thái Nguyên và ở cùng hai cháu Lục Tâm Al và Lục Tâm N2 là con của em gái H. Khoảng 5 giờ sáng ngày 10/5/2025, thấy Nông Văn C, gọi cửa thì H dậy ra mở cửa cho C vào nhà, C nói với H “Cho anh chơi nhờ tỷ”, H hiểu là C nhờ sử dụng ma túy tại nhà H nhưng H không nói gì. Rồi H vào giường ngủ còn C cài cửa nhà H lại rồi đi vào phòng ngồi ở đầu giường cạnh chỗ H đang nằm. H nghe tiếng Cương bật lửa ga, đoán C chuẩn bị sử dụng ma túy nên H quay người lại bảo C không được sử dụng ma túy tại đây thì C không sử dụng ma túy nữa. H tiếp tục ngủ, đến khoảng 06 giờ 30 phút thì Hoàng Văn C1 đến trước cửa phòng ngủ của H hỏi mua ma túy với số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) H lấy ma túy trong người ra, lấy ống hút bằng nhựa xúc cho C1 một ít vào một tờ giấy màu nâu rồi gói lại bằng vỏ ni lon đựng xi lanh đưa cho C1 nhưng C1 chưa trả tiền. C1 cầm gói ma túy đi ra ngoài bàn uống nước ở gian phòng khách, còn H quay

vào phòng thì thấy C lấy ma túy Heroine của C ra rồi dùng bật lửa hơ nóng giấy bạc và hít ma túy, H cũng tự lấy ma túy của H ra sử dụng, sau H ra ngoài phòng khách thì thấy C1 đang đốt xi lanh nên H nói với C1 “không được chơi ở đây nữa”, Sau đó, H quay vào phòng ngủ thì thấy C đang ngồi trên giường chia ma túy Heroine bằng cách dùng hống hút nhựa xúc ra các tờ giấy nhỏ hình vuông gói lại thành nhiều gói nhỏ, lúc này Lục Văn S1 gọi điện thoại từ số 0977.931.xxx đến số điện thoại 0385.725.xxx của H, hỏi “Có ở nhà không anh xuống” H trả lời “Có” rồi S1 tắt máy, một lúc sau có Đinh Lâm L1 đến hỏi H “Để cho anh năm trăm cả hồng” H cầm 500.000 đồng của L1 rồi đưa cho L1 01 gói ni lông nhỏ có khóa zip bên trong chứa Heroine và hồng phiến, L1 cầm gói ma túy rồi đi về. Sau khi bán ma túy cho L1 xong thì Lục Văn S1 đến, H nhận 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), rồi chia ma túy từ gói nilon sang một tờ giấy trắng kẻ xanh rồi gói lại đưa cho S1. S1 cầm gói ma túy rồi liền hỏi H “cho anh sử dụng nhờ đằng sau một tỷ” Huân trả lời “không chơi ở đây được đâu”, sau đó S1 đi đâu H không biết, còn H mở cửa đi sang nhà anh trai là Lục Văn H3 bên cạnh nhà H đang ở, thấy H sang thì H3 xin một ít ma túy, rồi H lấy ma túy Heroine trong người ra đưa cho H3 một mẩu nhỏ rồi đi về nhà. Sau đó, H3 đi sang nhà H ngồi ăn sáng, uống rượu cùng C1 thì thấy Cơ quan Công an xuất hiện, H thấy vậy hoảng sợ vứt các gói ma túy và tiền xuống nền nhà gần cửa chính và vứt vào trong buồng ngủ nơi Dương Ngọc A đang ngủ. Trước đó ngày 08/5/2025 H còn bán cho Đinh Lâm L1 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại khu vực bếp của nhà H. Khi H bán ma túy thì C ở trong phòng của H nên không biết H bán ma túy cho những ai.

Bị cáo Đinh Lâm L1 thừa nhận: Sáng ngày 10/5/2025, L1 nhờ Lục Văn N1 chở đến khu vực tổ H, xã C khi gần đến nhà của Lục Văn H, L1 bảo N1 dừng xe đợi ở ngoài đường còn L1 một mình đi vào nhà H mua với H 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L1 quay ra bảo N1 chở về, đang trên đường về thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra và thu giữ tại trong túi quần dài đằng sau bên phải của L1 01 gói ma túy Heroine. Trước đó, vào ngày 08/5/2025, tại nhà của H, L1 mua với H 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000 đồng.

Bị cáo Nông Văn C thừa nhận: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 10/5/2025, C đến nhà Lục Văn H thì gặp 01 người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ và mua với người này 01 cục ma túy Heroine đựng trong túi nilon khóa zip với giá 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Mục đích C mua ma túy về chia nhỏ ra để bán cho những người khác. Mua xong ma túy thì người đàn ông này đi đâu C không biết còn C đi vào phòng ngủ của H đem một ít ma túy ra sử dụng bằng cách hít, lúc này H cũng tự lấy ma túy của H ra sử dụng bằng cách hít. Sau khi sử dụng ma túy xong C lấy ma túy ra đang chia thành các gói nhỏ thì lực lượng Công an vào khám xét thu giữ ma túy. Ngoài ra H bán ma túy cho những ai C không biết vì C chỉ ở trong phòng của H.

Bị cáo Lục Văn H3 thừa nhận: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 10/5/2025 em trai của H3 là Lục Văn H đi sang nhà H3, rồi H cho H3 một mẩu ma tuý Heroine, sau đó H3 cất ma túy ở ốp lưng ĐTDĐ. Đến khoảng 07 giờ 30 phút, H3 sang nhà H thì bị lực lượng Công an khám xét và thu giữ của H3 01 gói ma túy Heroine.

Hoàng Văn C1 khai nhận: Sáng ngày 10/5/2025 C1 đi xe máy BKS: 29C1– 152.24 đến nhà Lục Văn H mua 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), nhưng chưa trả tiền cho H3, sau khi cầm gói ma túy C1 đi ra ngồi ở ghế trong phòng khách nhà H rồi pha một phần ma túy với nước cất vào trong xi lanh rồi sử dụng, còn một ít ma túy chưa dùng hết C1 đổ vào vỏ xi lanh vừa xé ra và cất vào trong túi quần bên trái phía trước, sau đó bị lực lượng Công an khám xét và thu giữ 01 gói bám dính ma túy.

Lục Văn S1 khai nhận: Vào khoảng 08 giờ ngày 10/4/2025, S1 gọi điện thoại cho Lục Văn H hỏi mua ma túy với số tiền là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), H đồng ý bán, rồi S1 điều khiển xe mô tô BKS 97AC - 007.83 đi đến nhà H, S1 đưa cho H 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng), H nhận tiền rồi lấy ra 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy trắng có kẻ ô rồi đưa cho S1. S1 cầm gói ma túy rồi hỏi H “Cho anh xuống bếp chơi nhờ nhé” nhưng H không nói gì và đi vào trong buồng ngủ, S1 xuống bếp nhà H sử dụng một phần ma túy, phần còn lại S1 gói lại rồi cất cùng xilanh vừa sử dụng vào túi quần. Sau bị lực lượng Công an khám xét thu giữ 01 gói ma túy Heroine.

Dương Ngọc A khai nhận: Do quen biết với Lục Văn H nên đến ở tại nhà H được khoảng 01 tháng, sáng ngày 10/5/2025, khi A đang ngủ trên giường trong phòng (cạnh phòng Lục Văn H) thì Cơ quan Công an đến khám xét và thu giữ 02 gói ma túy loại Ketamine; 01 viên ma túy tổng hợp.

Về vật chứng thu giữ:

  • - 01 xi lanh (bơm tiêm sử dụng một lần) và 02 lọ nước cất được niêm phong trong phong bì ký hiệu L2.
  • - 01 ví giả da màu đen, đã cũ, ngăn bên trong ví bị rách, mặt ngoài ví có dòng chữ dập chìm "Slardaro", trong ví có 01 thẻ ATM màu vàng của Ngân hàng B mang tên “LUC VAN HUAN".
  • - 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Realme màu đen, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 862794052527590, số Imei 2: 862794052527585. Bên trong điện thoại gắn thẻ sim số 0366. 569.129 của Lục Văn H3.
  • - 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A3 màu trắng, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 86590074594136, số Imei 2: 865950074594128. Điện thoại không gắn sim số của Nông Văn C.
  • - 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A3x màu đen, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 866685071067756, số Imei 2: 866685071067749. Bên trong gắn sim số 0385.725.313 và 0965.463.190 của Lục Văn H.
  • - 01 túi ni lông màu xanh, khóa zip bên trong có nhiều tờ giấy màu vàng và trắng có hình thù khác nhau được niêm phong trong phong bì ký hiệu B32.
  • - 01 cân điện tử màu đen trên mặt cân có dòng chữ “POCKET SCALE” màu trắng.
  • - 01 chiếc kéo có tay cầm bằng nhựa màu đỏ, nâu, chuôi bằng kim loại có tổng chiều dài là 20cm.
  • - 02 chiếc coóng: 01 chiếc cóng được làm từ chai nhựa đựng nước đặt trong cốc thủy tinh hình tròn được chèn chặt bằng giấy trắng, trên nắp nhựa chai nước có cắm 02 ống hút nhựa màu hồng, vàng và trắng, tím; 01 chiếc coóng được làm từ chai nhựa đựng nước đặt trong hộp bìa cat tông được chèn chặt và dán kín bằng băng dính màu đen, trên nắp nhựa chai nước có cắm 02 ống hút nhựa màu xanh, tím và trắng, tím.
  • - 12 phong bì bên trong chứa vỏ phong bì đã mở niêm phong khi tiến hành cân khối lượng chất ma túy và vật liệu để gói ma túy được ký hiệu M2, N2, M10, Z2, Y3, K2, K4, K6, K8, K10, K12, K14.
  • - Các mẫu chất trong phong bì M1 còn lại 0,27gam, mẫu chất trong phong bì N1 còn lại 0,09 gam, mẫu chất trong phong bì Z1 còn lại 0,02 gam, mẫu chất trong phong bì K1 còn lại 0,08 gam, mẫu chất trong phong bì K5 còn lại 0,33 gam, mẫu chất trong phong bì K7 còn lại 0,69 gam, mẫu chất trong phong bì M3 còn lại 0,61 gam, mẫu chất trong phong bì M4 còn lại 0,21 gam, mẫu chất trong phong bì M5 còn lại 1,71 gam, mẫu chất trong phong bì M6 còn lại 0,33 gam, mẫu chất trong phong bì M7 còn lại 0,34 gam, mẫu chất trong phong bì M8 còn lại 0,23 gam, mẫu chất trong phong bì M9 còn lại 0,06 gam, mẫu chất trong phong bì Y1 còn lại 1,44 gam, mẫu chất trong phong bì K11 còn lại 4,82 gam, mẫu chất trong phong bì Y2 còn lại 1,06 gam, mẫu chất trong phong bì K13 còn lại 2,06 gam, mẫu viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu S9 còn lại 1,65gam cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T72.
  • - 01 xi lanh đã qua sử dụng, 01 (một) túi vỏ bơm kim tiêm và 01 (một) lọ nước cất đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu S12.
  • - 02 lọ Pot để hút màu xanh dương, 01 (một) lọ P1 dùng một lần màu đỏ hình trụ tròn niêm phong trong phong bì ký hiệu B17.
  • - 01 phong bì niêm phong số 3917/KL-KTHS của V Bộ C4 chứa mẫu hoàn lại sau giám định.
  • - Số tiền thu giữ của Lục Văn H 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) trong phong bì A13 và B28, của Nông Văn C 6.360.000₫ (Sáu triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) trong phong bì C6, của Lục Văn H3 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) trong phong bì H4, gửi giám định tiền thật, giả, sau niêm phong lại trong phong bì ký hiệu T676, đang tạm gửi tại Phòng G, Kho bạc Nhà nước khu vực 7.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT – VKSKV6 ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lục Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nông Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Đinh Lâm L1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật

Hình sự; truy tố bị cáo Lục Văn H3 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật Hình sự có nội dung:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

a) ...

b) Phạm tội 02 lần trở lên

i) Heroine, C3, Methamphetamine, A2, MDMA...có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ h đến o khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Điều 249 Bộ luật Hình sự có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroine, C3, Methamphetamine, A2, ...có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tại phiên toà:

* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Tuyên bố bị cáo Lục Văn H và bị cáo Nông Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Đinh Lâm L1 và bị cáo Lục Văn H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt chính:

+ Áp dụng điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lục Văn H.

Xử phạt bị cáo Lục Văn H từ 08 đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/5/2025.

+ Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn C.

Xử phạt bị cáo Nông Văn C từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/5/2025.

+ Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Lâm L1.

Xử phạt bị cáo Đinh Lâm L1 từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 10/5/2025 đến ngày 19/5/2025.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lục Văn H3.

Xử phạt bị cáo Lục Văn H3 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 11/5/2025 đến ngày 19/5/2025.

-Về hình phạt bổ sung:

+Phạt bổ sung bị cáo Lục Văn H số tiền từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ để nộp Ngân sách Nhà nước.

+Phạt bổ sung bị cáo Nông Văn C số tiền từ 5.000.000đ đến 10.000.000₫ để nộp Ngân sách Nhà nước.

+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh Lâm L1 và bị cáo Lục Văn H3.

-Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) cân điện tử màu đen trên mặt cân có dòng chữ “POCKET SCALE” màu trắng của Nông Văn C; 01 (Một) xi lanh (bơm tiêm sử dụng một lần) và 02 lọ nước cất được niêm phong trong phong bì ký hiệu L2; 01 (Một) ví giả da màu đen, đã cũ, ngăn bên trong ví bị rách, mặt ngoài ví có dòng chữ dập chìm “Slardaro”; 01 (Một) thẻ ATM màu vàng của Ngân hàng B mang tên “LUC VAN HUAN”; 01(Một) túi ni lông màu xanh, khóa zip bên trong có nhiều tờ giấy màu vàng và trắng có hình thù khác nhau được niêm phong trong phong bì ký hiệu B32; 01 (Một) chiếc kéo có tay cầm bằng nhựa màu đỏ, nâu, chuôi bằng kim loại có tổng chiều dài là 20cm; 02 (Hai) chiếc coóng: 01 chiếc coóng được làm từ chai nhựa đựng nước đặt trong cốc thủy tinh hình tròn được chèn chặt bằng giấy trắng, trên nắp nhựa chai nước có cắm 02 ống hút nhựa màu hồng, vàng và trắng, tím, 01 chiếc coóng được làm từ chai nhựa đựng nước đặt trong hộp bìa cat tông được chèn chặt và dán kín bằng băng dính màu đen, trên nắp nhựa chai nước có cắm 02 ống hút nhựa màu xanh, tím và trắng, tím; 12 (Mười hai) phong bì bên trong chứa vỏ phong bì đã mở niêm phong khi tiến hành cân khối lượng chất ma túy và vật liệu để gói ma túy được ký hiệu M2, N2, M10, Z2, Y3, K2, K4, K6, K8, K10, K12, K14; các mẫu chất trong phong bì M1 còn lại 0,27gam, mẫu chất trong phong bì N1 còn lại 0,09

gam, mẫu chất trong phong bì Z1 còn lại 0,02 gam, mẫu chất trong phong bì K1 còn lại 0,08 gam, mẫu chất trong phong bì K5 còn lại 0,33 gam, mẫu chất trong phong bì K7 còn lại 0,69 gam, mẫu chất trong phong bì M3 còn lại 0,61 gam, mẫu chất trong phong bì M4 còn lại 0,21 gam, mẫu chất trong phong bì M5 còn lại 1,71 gam, mẫu chất trong phong bì M6 còn lại 0,33 gam, mẫu chất trong phong bì M7 còn lại 0,34 gam, mẫu chất trong phong bì M8 còn lại 0,23 gam, mẫu chất trong phong bì M9 còn lại 0,06 gam, mẫu chất trong phong bì Y1 còn lại 1,44 gam, mẫu chất trong phong bì K11 còn lại 4,82 gam, mẫu chất trong phong bì Y2 còn lại 1,06 gam, mẫu chất trong phong bì K13 còn lại 2,06 gam, mẫu viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu S9 còn lại 1,65gam cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T72; 01 (Một) xi lanh đã qua sử dụng; 01 (một) túi vỏ bơm kim tiêm và 01 (một) lọ nước cất đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu S12; 02 (Hai) lọ Pot để hút màu xanh dương, 01 (một) lọ P1 dùng một lần màu đỏ hình trụ tròn niêm phong trong phong bì ký hiệu B17; 01 phong bì niêm phong số 3917/KL-KTHS của V Bộ C4 chứa mẫu hoàn lại sau giám định.

+ Trả lại cho bị cáo Lục Văn H3: 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Realme màu đen, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 862794052527590, số Imei 2: 862794052527585; bên trong điện thoại gắn thẻ sim số 0366. 569.129 của Lục Văn H3.

+ Trả lại cho bị cáo Nông Văn C: 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A3 màu trắng, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 86590074594136, số Imei 2: 865950074594128; điện thoại không gắn sim số của Nông Văn C.

+ Tịch thu hoá giá, sung Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A3x màu đen, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 866685071067756, số Imei 2: 866685071067749; bên trong gắn sim số 0385.725.313 và 0965.463.190 của Lục Văn H;

+ Buộc ông Hoàng Văn C1 phải nộp lại số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) là tiền mua ma tuý với bị cáo H để sung Ngân sách Nhà nước.

+ Buộc bị cáo Lục Văn H phải nộp lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) là tiền thu được từ việc bán ma tuý cho Đinh Lâm L1 trong ngày 08/5/2025.

+ Đối với số tiền 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của Lục Văn H, trong đó xác định có 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma tuý mà có, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) còn lại là tiền của bị cáo lao động mà có, cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo;

+ Tạm giữ số tiền 6.360.000₫ (Sáu triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) của Nông Văn C để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo;

+ Tạm giữ số tiền 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) của Lục Văn H3 để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Các bị cáo Lục Văn H, Nông Văn C, Đinh Lâm L1, Lục Văn H3 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn họ đều xác nhận đã được nhận lại các tài sản, đồ vật bị Cơ quan điều tra thu giữ và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do vậy có căn cứ xác định:

Vào các ngày 08 và ngày 10/5/2025, tại nhà ở của mình thuộc tổ H, xã C, tỉnh Thái Nguyên, Lục Văn H đã có hành vi nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho người khác, cụ thể: Ngày 08/5/2025 đã bán cho Đinh Lâm L1 01 gói ma túy Heroine với giá 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), đến ngày 10/5/2025, lại tiếp tục bán cho Đinh Lâm L1 01 gói ma túy Heroine và M1 với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); bán cho Hoàng Văn C1 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng (C1 chưa trả tiền) và bán cho Lục Văn S1 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Tổng số tiền bán ma túy trái phép là 1.200.000đ (Một triệu, hai trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, qua khám xét nhà ở còn thu giữ của Lục Văn H 9,31g (Chín phẩy ba một gam) ma túy loại Heroine và M1. Bị cáo H khai mục đích tàng trữ số ma tuý trên để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời.

Ngày 10/5/2025, tại nhà của Lục Văn H thuộc tổ H, xã C, tỉnh Thái Nguyên, Nông Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,66g (Bốn phẩy sáu sáu gam) ma túy Heroine, nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân và bán cho người khác kiếm lời, tuy nhiên chưa bán được cho ai thì bị Cơ quan điều tra bắt, thu giữ. Đối với Lục Văn H3 đã có hành vi tàng trữ 0,12g (không phẩy một hai gam) ma túy Heroine; Đinh Lâm L1 đã có hành vi tàng trữ 0,30g (không phẩy ba không gam) ma túy Heroine và M1, đều nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Tội phạm bị cáo Lục Văn H thực hiện thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng; Tội phạm các bị

cáo Đinh Lâm L1, Lục Văn H3, Nông Văn C thực hiện thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma tuý, là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo Lục Văn H và Lục Văn H3 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Bị cáo Nông Văn C có nhân thân xấu: Có 01 tiền án; năm 2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên) xử phạt 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 04/2022/HSST ngày 16/11/2022. Ngày 17/12/2023 chấp hành án xong, chưa được xóa án tích.

Bị cáo Đinh Lâm L1 có nhân thân xấu: Năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Kạn (Nay là Toà án nhân dân Khu vực 6 – Thái Nguyên) xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 04/2015/HSST ngày 29/12/2015, đã được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nông Văn C phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Lục Văn H, Đinh Lâm L1, Lục Văn H3 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Lục Văn H và bị cáo Lục Văn H3 có ông nội là ông Lục Văn E được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và Huy chương kháng chiến hạng nhất nên các bị cáo H và H3 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX thấy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy các bị cáo Lục Văn H, Nông Văn C mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích kiếm lời do vậy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Đinh Lâm L1, Lục Văn H3 đều là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, việc tàng trữ ma tuý chỉ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời do đó Hội đồng xét xử không

áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

+ Các vật chứng hiện không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 (Một) cân điện tử màu đen trên mặt cân có dòng chữ “POCKET SCALE” màu trắng; 01 (Một) xi lanh (bơm tiêm sử dụng một lần) và 02 lọ nước cất được niêm phong trong phong bì ký hiệu L2; 01 (Một) ví giả da màu đen, đã cũ, ngăn bên trong ví bị rách, mặt ngoài ví có dòng chữ dập chìm “Slardaro”; 01 (Một) thẻ ATM màu vàng của Ngân hàng B mang tên “LUC VAN HUAN”; 01(Một) túi ni lông màu xanh, khóa zip bên trong có nhiều tờ giấy màu vàng và trắng có hình thù khác nhau được niêm phong trong phong bì ký hiệu B32; 01 (Một) chiếc kéo có tay cầm bằng nhựa màu đỏ, nâu, chuôi bằng kim loại có tổng chiều dài là 20cm; 02 (Hai) chiếc coóng: 01 chiếc coóng được làm từ chai nhựa đựng nước đặt trong cốc thủy tinh hình tròn được chèn chặt bằng giấy trắng, trên nắp nhựa chai nước có cắm 02 ống hút nhựa màu hồng, vàng và trắng, tím, 01 chiếc coóng được làm từ chai nhựa đựng nước đặt trong hộp bìa cat tông được chèn chặt và dán kín bằng băng dính màu đen, trên nắp nhựa chai nước có cắm 02 ống hút nhựa màu xanh, tím và trắng, tím; 12 (Mười hai) phong bì bên trong chứa vỏ phong bì đã mở niêm phong khi tiến hành cân khối lượng chất ma túy và vật liệu để gói ma túy được ký hiệu M2, N2, M10, Z2, Y3, K2, K4, K6, K8, K10, K12, K14; 01 (Một) xi lanh đã qua sử dụng; 01 (một) túi vỏ bơm kim tiêm và 01 (một) lọ nước cất đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu S12; 01 phong bì niêm phong số 3917/KL-KTHS của V Bộ C4 chứa mẫu hoàn lại sau giám định.

+ Các vật chứng là chất ma tuý thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ bao gồm: Các mẫu chất trong phong bì M1 còn lại 0,27gam, mẫu chất trong phong bì N1 còn lại 0,09 gam, mẫu chất trong phong bì Z1 còn lại 0,02 gam, mẫu chất trong phong bì K1 còn lại 0,08 gam, mẫu chất trong phong bì K5 còn lại 0,33 gam, mẫu chất trong phong bì K7 còn lại 0,69 gam, mẫu chất trong phong bì M3 còn lại 0,61 gam, mẫu chất trong phong bì M4 còn lại 0,21 gam, mẫu chất trong phong bì M5 còn lại 1,71 gam, mẫu chất trong phong bì M6 còn lại 0,33 gam, mẫu chất trong phong bì M7 còn lại 0,34 gam, mẫu chất trong phong bì M8 còn lại 0,23 gam, mẫu chất trong phong bì M9 còn lại 0,06 gam, mẫu chất trong phong bì Y1 còn lại 1,44 gam, mẫu chất trong phong bì K11 còn lại 4,82 gam, mẫu chất trong phong bì Y2 còn lại 1,06 gam, mẫu chất trong phong bì K13 còn lại 2,06 gam, mẫu viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu S9 còn lại 1,65gam cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T72; 02 (Hai) lọ Pot để hút màu xanh dương, 01 (một) lọ P1 dùng một lần màu đỏ hình trụ tròn niêm phong trong phong bì ký hiệu B17.

+ Đối với 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Realme màu đen, đã qua sử dụng, Số Imei 1: 862794052527590, số Imei 2: 862794052527585; bên trong điện thoại gắn thẻ sim số 0366. 569.129 của Lục Văn H3, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo H3.

+ Đối với 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A3 màu trắng, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 86590074594136, số Imei 2: 865950074594128; điện thoại không gắn sim số của Nông Văn C, không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo C.

+ Đối với 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A3x màu đen, đã qua sử dụng, số Imei 1: 866685071067756, số Imei 2: 866685071067749; bên trong gắn sim số 0385.725.313 và 0965.463.190 của Lục Văn H; quá trình điều tra xác định, bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc bán trái phép chất ma tuý, do vậy cần tịch thu hoá giá, sung Ngân sách Nhà nước.

+ Đối với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) là tiền Hoàng Văn C1 mua ma tuý với bị cáo H nhưng chưa trả cho H, cần buộc Hoàng Văn C1 phải nộp lại để sung Ngân sách Nhà nước;

+ Đối với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) là tiền Lục Văn H thu được từ việc bán ma tuý cho Đinh Lâm L1 trong ngày 08/5/2025, cần buộc bị cáo H phải nộp lại để sung Ngân sách Nhà nước.

+ Đối với số tiền 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của Lục Văn H, trong đó xác định có 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma tuý mà có, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) còn lại là tiền của bị cáo lao động mà có, cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo.

+ Đối với số tiền 6.360.000₫ (Sáu triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) tạm giữ của Nông Văn C, không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo.

+ Đối với số tiền 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) tạm giữ của Lục Văn H3, không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Các vấn đề khác:

Theo lời khai của bị cáo Lục Văn H về nguồn gốc số ma túy đã bán và bị thu giữ do H mua của 01 người đàn ông tại khu vực thị trấn G, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 09/5/2025. H không biết lai lịch, địa chỉ người đàn ông này, do vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh, xử lý.

Theo lời khai của bị cáo Nông Văn C về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, do C mua của 01 người đàn ông không biết tên tuổi, lai lịch tại nhà Lục Văn H vào sáng ngày 10/5/2025. Cơ quan điều tra đã áp dụng mọi biện pháp điều tra, tuy nhiên không xác định được nhân thân, lai lịch người này.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn C1, Lục Văn S1, Nông Văn C tại nhà của Lục Văn H. Do H không biết nên không xem xét xử lý đối với H, tuy nhiên sáng ngày 10/5/2025 H đã có hành vi bỏ mặc cho Nông Văn C

sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng ngủ của H 01 lần. Hành vi bỏ mặc của H chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên không xử lý.

Theo lời khai của Dương Ngọc A có 01 người đàn ông tên L2 nhà ở phường B đã bán ma túy cho A. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được nhân thân lai lịch của người này.

Đối với hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn C1 không xác định được khối lượng, Dương Ngọc A, Lục Văn S1 do khối lượng chất ma túy chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C1, A, và S1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 97B1-144.18, Đinh Lâm L1 nhờ Lục Văn N1 chở đi đến nhà Lục Văn H mua ma túy, chiếc xe do N1 mượn của anh Nông Văn D, trú tại xã T, tỉnh Thái Nguyên, quá trình điều tra xác định chiếc xe không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông D là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 29C1– 152.24, nhãn hiệu YAMAHA, loại: JUPITER, màu sơn đỏ, đen Hoàng Văn C1 sử dụng đi đến nhà Lục Văn H mua ma túy, chiếc xe là tài sản riêng của chị Phùng Thị Q, sinh năm 1987 trú tại tổ B, xã C, tỉnh Thái Nguyên là vợ của C1, chị Q không biết C1 sử dụng xe vào việc vi phạm pháp luật. Nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Q là đúng quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 190.000đ (Một trăm chín mươi nghìn đồng) gồm 01 tờ mệnh giá 100.000₫, 01 tờ mệnh giá 50.000đ, 02 tờ mệnh giá 20.000đ) và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng đồng, trắng, bên trong gắn thẻ sim số 0332.382.693 thu giữ của Hoàng Văn C1, xác định không liên quan đến vụ án, do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho C1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 97AC– 007.83 nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCITER,màu đen, bạc; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, bên trong gắn sim số 0977.931.112; 01 ví da màu đen, bên trong có số tiền 190.000₫ (Một trăm chín mươi nghìn đồng) của Lục Văn S1, xác định không liên quan đến vụ án, do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho S1 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 03 chiếc ĐTDĐ gồm: 01 chiếc ĐTDĐ bàn phím nhãn hiệu Masstel màu xanh dương, gắn sim số 0359.139.076 và 0387.485.607; 01 ĐTDĐ cảm ứng nhãn hiệu Iphone 12 promax màu vàng đồng, gắn sim số 0349.250.663; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen, đã vỡ màn hình, gắn sim số 0363.858.552; 01 túi sách giả da và số tiền 2.000.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Dương Ngọc A, xác định không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Dương Ngọc A là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Huawei màu đen, không gắn thẻ sim và 01 ĐTDĐ bàn phím nhãn hiệu Viettel màu đen, gắn thẻ sim số 0398.641.962 là của Lục Tâm Al và Lục Tâm N2 (hai cháu của bị can Lục Văn H sống cùng nhà với H) không liên quan đến vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho cháu Lục Tâm Al và Lục Tâm N2 là đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 ĐTDD nhãn hiệu Samsung màu trắng, gắn thẻ sim số 0392.805.646 thu giữ tại nhà Lục Văn H, quá trình điều tra xác định của Lý Quý D1, trú tại tổ A, xã C, tỉnh Thái Nguyên để quên ở nhà Lục Văn H không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho D1 là đúng quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí đối với các bị cáo là phù hợp, có cơ sở để chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lục Văn H và bị cáo Nông Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Đinh Lâm L1 và bị cáo Lục Văn H3 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt chính:

- Áp dụng điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lục Văn H.

Xử phạt bị cáo Lục Văn H 08 (T4) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/5/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Lục Văn H 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn C.

Xử phạt bị cáo Nông Văn C 04 (Bốn) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 11/5/2025.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nông Văn C 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Lâm L1.

Xử phạt bị cáo Đinh Lâm L1 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 10/5/2025 đến ngày 19/5/2025.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lục Văn H3.

Xử phạt bị cáo Lục Văn H3 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 11/5/2025 đến ngày 19/5/2025.

3.Về hình phạt bổ sung:

+ Phạt bổ sung bị cáo Lục Văn H số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.

+Phạt bổ sung bị cáo Nông Văn C số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) để nộp Ngân sách Nhà nước.

4.Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) cân điện tử màu đen trên mặt cân có dòng chữ “POCKET SCALE” màu trắng của Nông Văn C; 01 (Một) xi lanh (bơm tiêm sử dụng một lần) và 02 lọ nước cất được niêm phong trong phong bì ký hiệu L2; 01 (Một) ví giả da màu đen, đã cũ, ngăn bên trong ví bị rách, mặt ngoài ví có dòng chữ dập chìm “Slardaro”; 01(Một) túi ni lông màu xanh, khóa zip bên trong có nhiều tờ giấy màu vàng và trắng có hình thù khác nhau được niêm phong trong phong bì ký hiệu B32; 01 (Một) chiếc kéo có tay cầm bằng nhựa màu đỏ, nâu, chuôi bằng kim loại có tổng chiều dài là 20cm; 02 (Hai) chiếc coóng: 01 chiếc coóng được làm từ chai nhựa đựng nước đặt trong cốc thủy tinh hình tròn được chèn chặt bằng giấy trắng, trên nắp nhựa chai nước có cắm 02 ống hút nhựa màu hồng, vàng và trắng, tím, 01 chiếc coóng được làm từ chai nhựa đựng nước đặt trong hộp bìa cat tông được chèn chặt và dán kín bằng băng dính màu đen, trên nắp nhựa chai nước có cắm 02 ống hút nhựa màu xanh, tím và trắng, tím; 12 (Mười hai) phong bì bên trong chứa vỏ phong bì đã mở niêm phong khi tiến hành cân khối lượng chất ma túy và vật liệu để gói ma túy được ký hiệu M2, N2, M10, Z2, Y3, K2, K4, K6, K8, K10, K12, K14; các mẫu chất trong phong bì M1 còn lại 0,27gam, mẫu chất trong phong bì N1 còn lại 0,09 gam, mẫu chất trong phong bì Z1 còn lại 0,02 gam, mẫu chất trong phong bì K1 còn lại 0,08 gam, mẫu chất trong phong bì K5 còn lại 0,33 gam, mẫu chất trong phong bì K7 còn lại 0,69 gam, mẫu chất trong phong bì M3 còn lại 0,61 gam, mẫu chất trong phong bì M4 còn lại 0,21 gam, mẫu chất trong phong bì M5 còn lại 1,71 gam, mẫu chất trong phong bì M6 còn lại 0,33 gam, mẫu chất trong phong bì M7 còn lại 0,34 gam, mẫu chất trong phong bì M8 còn lại 0,23 gam, mẫu chất trong phong bì M9 còn lại 0,06 gam, mẫu chất trong phong bì Y1 còn lại 1,44 gam, mẫu chất trong phong bì K11 còn lại 4,82 gam, mẫu chất trong phong bì Y2 còn lại 1,06 gam, mẫu chất trong phong bì K13 còn lại 2,06 gam, mẫu viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu S9 còn lại 1,65gam cùng toàn bộ phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T72; 01 (Một) xi lanh đã qua sử dụng; 01 (một) túi vỏ bơm kim tiêm và 01 (một) lọ nước cất đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu S12; 02 (Hai) lọ Pot để hút màu xanh dương, 01 (một) lọ P1 dùng một lần màu đỏ hình trụ tròn niêm phong trong phong bì ký hiệu B17; 01 phong bì niêm phong số 3917/KL-KTHS của V Bộ C4 chứa mẫu hoàn lại sau giám định.

+ Trả lại cho bị cáo Lục Văn H3: 01 (Một) thẻ ATM màu vàng của Ngân hàng B mang tên “LUC VAN HUAN”; 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Realme màu đen, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 862794052527590, số Imei 2: 862794052527585; bên trong điện thoại gắn thẻ sim số 0366. 569.129 của Lục Văn H3.

+ Trả lại cho bị cáo Nông Văn C: 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A3 màu trắng, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 86590074594136, số Imei 2: 865950074594128; điện thoại không gắn sim số của Nông Văn C.

+ Tịch thu hoá giá, sung Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo A3x màu đen, đã qua sử dụng. Số Imei 1: 866685071067756, số Imei 2: 866685071067749; bên trong gắn sim số 0385.725.313 và 0965.463.190 của Lục Văn H;

+ Buộc ông Hoàng Văn C1 phải nộp lại số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) là tiền mua ma tuý với bị cáo H để sung Ngân sách Nhà nước;

+ Buộc bị cáo Lục Văn H phải nộp lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) là tiền thu được từ việc bán ma tuý cho Đinh Lâm L1 trong ngày 08/5/2025, để sung Ngân sách Nhà nước;

+ Đối với số tiền 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng) thu giữ của Lục Văn H, trong đó xác định có 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma tuý mà có, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Số tiền 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) còn lại là tiền của bị cáo lao động mà có, cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo H.

+ Tạm giữ số tiền 6.360.000₫ (Sáu triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) của Nông Văn C để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo C. Sau khi thi hành án, số tiền còn thừa trả lại cho bị cáo.

+ Tạm giữ số tiền 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) của Lục Văn H3 để bảo đảm thi hành án dân sự cho bị cáo H3. Sau khi thi hành án, số tiền còn thừa trả lại cho bị cáo.

(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 – Thái Nguyên).

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Các bị cáo Lục Văn H, Nông Văn C, Đinh Lâm L1, Lục Văn H3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND KV6- Thái Nguyên;
  • - Phòng HSNV- CA tỉnh Thái Nguyên;
  • - Phòng PC 10 - CA tỉnh Thái Nguyên;
  • - Phòng THADS KV6 - Thái Nguyên;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người có QL,NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.
  • - Lưu TA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyệt Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2025/HSST ngày 17/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự về tội "mua bán trái phép chất ma túy" và "tàng trữ trái phép chất ma túy"

  • Số bản án: 24/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lục Văn H và bị cáo Nông Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Đinh Lâm L và bị cáo Lục Văn H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger