TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 222/2025/HS-PT Ngày: 11 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đăng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Tâm
Bà Nguyễn Công Hoàn
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 218/2025/TLPT-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo K’Đ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng.
Bị cáo có kháng cáo: K' Đ; sinh ngày 24 tháng 5 năm 2006, tại Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn E, xã Đ, huyện D tỉnh Lâm Đồng; nay là Thôn E, xã H, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Cơ Ho; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông K' Đôi, sinh năm 1983 và bà Ka H, sinh năm 1982; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 237/QĐ-XPHC ngày 21/8/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng xử phạt số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, nộp phạt ngày 29/4/2025. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có 04 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 15/02/2025, Tràng Kim C, K' Đ, K' H1, K' N, ngồi chơi tại nhà K' G, địa chỉ: thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Tràng Kim C nói với K' H1, K' G, K' Đ, K' N chúng mày tập trung ở đây sao không kiếm việc mà làm, lấy tiền đâu mà ăn. Sau đó K’ H1 nói với Tràng Kim C, K' G, K' Đ, K' N là đi kiếm tiền về để mua đồ nhậu. K' H1 đã rủ K' N, K' G vào trong thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để trộm cắp tài sản thì K' N, K' G đồng ý đi cùng, tuy nhiên do không có phương tiện để đi nên K' G nói với Tràng Kim C là cho tao mượn xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh biển số: 49G1-36748 để đi ăn trộm, Tràng Kim C đồng ý cho mượn xe và nói đi cẩn thận, xe không có chìa khóa; K' N mượn xe của K' Đ và nói là sử dụng để đi trộm cắp tài sản, lúc đầu K' Đ không đồng ý cho mượn nhưng sau đó Tràng Kim C nói với K' Đ là cho K' N mượn xe mô tô hiệu Honda Warers màu xanh đen biển số 49G1-06077 để đi kiếm tiền, nghe Tràng Kim C nói vậy thì K' Đ đồng ý và đưa chìa khóa xe máy cho K' N lấy xe sử dụng để đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23 giờ ngày 15/02/2025 K' N, K' H1, K' G đến trước nhà ông Nguyễn Đức T, sinh năm: 1970, địa chỉ: thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thì dừng xe lại, K' N cầm 01 con giao tự chế mang theo trước đó đứng ở ngoài cảnh giới còn K' N, K' H1 đi vào trong sân lấy trộm được 30 kg tiêu đang phơi rồi đem ra xe chở đi cất giấu. Sau khi cất giấu xong rồi tiếp tục đi đến nhà bà Trần Thị H2, sinh năm: 1981, địa chỉ: thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng lấy trộm được 20kg quả cà phê khô. Sau khi lấy trộm được tiêu và cà phê đến sáng ngày 16/02/2025 K' H1, K' G, K' N đã chở tiêu và cà phê trộm cắp được đến bán cho bà Lại Thị B, sinh năm: 1977, địa chỉ: thôn E, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. (K' H1 biết bà B từ trước do thường xuyên đến đây chơi bi da tại nhà bà B và biết tại đây có thu mua nông sản). Khi mua cà phê và tiêu bà B không hỏi nguồn gốc tài sản, K' H1, K' G, K' N cũng không nói nguồn gốc tài sản do trộm cắp mà có. Bà B mua 30 kg tiêu tươi 1.800.000 đồng; 20 kg quả cà phê khô bán được 800.000 đồng. (Sau khi mua tiêu bà B đã phơi khô còn trọng lượng là 17 kg rồi bán lại cho đại lý T1).Sau khi bán xong K' N, K' G, K' H1 đi về lại nhà K' G và tiến hành chia tiền. Trong đó: K' G được K’ H1 chia cho 1.000.000 đồng, K' G giữ lại 700.000 đồng để tiêu xài cá nhân, còn 300.000 đồng K' G đưa cho Tràng Kim C để trả tiền xe sử dụng để đi trộm cắp tài sản; K' Đ được K' H1 chia cho 70.000 đồng tiền để đổ xăng sau khi mượn xe sử dụng để đi trộm cắp tài sản; K' N được K' H1 chia cho 350.000 đồng; K' H1 giữ lại số tiền là 1.180.000 đồng. Số tiền được chia sau khi bán tài sản do trộm cắp mà có K' G, K' H1, Tràng Kim C, K' N, K' Đ đã tiêu xài cá nhân hết.
Vật chứng thu giữ: 20 kg quả cà phê khô; 17 kg tiêu khô; 01 xe mô tô hiệu Honda Warers màu xanh đen biển số 49G1-060.77 chủ sở hữu là ông K' Đ1 bố của K' Đ, K' Đ cho mượn xe ông K' Đ1 không biết; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh biển số: 49G1-367.48 chủ sở hữu là bà Ka H3 mẹ của Tràng Kim C, C cho mượn xe bà Ka H3 không biết đối với những vật chứng này Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định; 01 (một) USB chứa 2 đoạn Video ghi lại việc K' G, K' N, K' Đ trộm cắp tài sản tại nhà bà Trần Thị H2 và nhà ông Nguyễn Đức T tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án; 01 dao tự chế dài 80 cm, có lưỡi bằng sắt dài 30 cm, thân dao bằng ống thép hình trụ dài 50 cm; 01 dao tự chế dài 110 cm, có lưỡi bằng sắt dài 40 cm, thân dao bằng ống thép hình trụ dài 70 cm cần chuyển sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lâm Đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 11/KL-HĐĐGTS ngày 14/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: Gía trị 20kg quả cà phê khô loại robusta là 1.295.000 đồng, giá trị 17kg tiêu khô là 2.698.800 đồng. Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 3.987.800 đồng. Tại Cơ quan điều tra, K' G, K' H1, K' N đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản là 30 kg tiêu tươi (17 kg tiêu khô) của ông Nguyễn Đức T và 20 kg quả cà phê khô của bà Trần Thị H2 vào ngày 16/02/2025 tại thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. K’ Đ và Tràng Kim C đã thừa nhận mặc dù biết việc cho K' G, K' H1, K' N mượn xe mô tô sử dụng để đi trộm cắp tài sản và nhận tiền do K' G, K' Đ, K' H1 bán tài sản do trộm cắp mà có đưa cho. Tràng Kim C là người xúi giục K' G, K' Đ, K' N, K' H1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Không có ai hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ tài sản khi K' G, K' H1, K' N trộm cắp được. Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Đức T đã nhận lại 17 kg tiêu khô, bà Trần Thị H2 đã nhận lại tài sản là 20kg quả cà phê khô nên không yêu cầu bồi thường thêm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lại Thị B, bà Trương Thị Như Y mua cà phê và tiêu sau đó bị cơ quan điều tra thu giữ, bà B, bà Y đều không yêu cầu các bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Tràng Kim C, K' N, K' H1, K' G, K' Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Tràng Kim C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự: xử phạt các bị cáo K' N, K' H1, K' G, K' Đ mỗi bị cáo 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/8/2025, bị cáo K’Đ kháng cáo xin được hưởng án treo, lý do bị cáo cho rằng mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là quá nặng.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
- - Ý kiến của Kiểm sát viên: Qua nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh tụng. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Tràng Kim C, K' N, K' H1, K' G, K’ Đ về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới để xem xét, mặt khác bị cáo có nhân thân xấu nên không đủ điều kiện được hưởng án treo. Với tính chất vụ việc xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo K' Đ 12 tháng tù là quá nghiêm so với tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi mà bị cáo gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo K' Đ; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng; đề nghị xử phạt bị cáo K' Đ 9 (chín) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo K’Đ nộp trong hạn luật định, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo K’Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15/02/2025 tại thôn A xã H (thôn A, xã Đ, huyện D cũ), tỉnh Lâm Đồng, K' G, K' H1, K' N cùng trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 30 kg tiêu tươi (17 kg tiêu khô) của ông Nguyễn Đức T có giá trị là 2.698.800 đồng và 20 kg quả cà phê khô của bà Trần Thị H2 có giá trị là 1.295.000 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.987.800 đồng. Tuy K' Đ và Tràng Kim C không tham gia trực tiếp thực hiện việc trộm cắp tài sản nhưng trong vụ án này Kim C đồng phạm với vai trò là người khởi xướng, xúi giục, giúp sức, còn K' Đ với vai trò giúp sức, đồng thời cả hai còn hưởng lợi tài sản từ hành vi trộm cắp do K' G, K' H1, K1 thực hiện. Vì vậy, các bị cáo Tràng Kim C, K' Đ, K' G, K' H1, K' N cùng phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.987.800 đồng. Hành vi này của các bị cáo Tràng Kim C, K' Đ, K' G, K' H1, K' N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên các bị cáo Tràng Kim C, K' Đ, K' G, K' H1, K' N cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, và không oan.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo K'Đ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Trước ngày bị cáo K' Đ thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản (đồng phạm với vai trò giúp sức), bị cáo đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 237/QĐ-XPHC ngày 21/8/2024 (nộp phạt ngày 29/4/2025), điều này thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, việc bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo là không được chấp nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo để quyết định hình phạt 12 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị hại có đơn bãi nại xin cho bị cáo K’Đ được hưởng án treo, đây là tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm; ngoài ra bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ hiểu biết của bị cáo thấp, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Với tính chất, vai trò của bị cáo K' Đ trong vụ án, cấp sơ thẩm đã quyết định mức hình phạt 12 tháng tù đối với bị cáo là quá nghiêm. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, quyết định giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt là phù hợp.
[4] Về quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phù hợp với những nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1] Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo K’Đ. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật hình sự; Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[2] Tuyên bố: Bị cáo K’Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo K’Đ 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
[3] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (11/11/2025)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Bùi Đăng |
Bản án số 222/2025/HS-PT ngày 11/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 222/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: K' Đ phạm tội trộm cắp tài sản
