TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI Bản án số: 221/2025/HS-ST Ngày: 08/12/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc —————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
——————————————
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Chung.
Bà Bùi Thị Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Toà án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội (Cơ sở 2) và điểm cầu thành phần tại Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số 01 - Công an thành phố H xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 214/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 449/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1/Phạm Thế Cường, sinh năm 1969; giới tính: Nam; số VneID 001069010506; nơi đăng ký thường trú : Số E Ngõ C, phường N, thành phố Hà Nội; nơi ở: Số C ngách H K, phường N, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Cao H và bà Đào Thị P (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Kim N và 01 con; tiền án: Tại bản án số 638/HSST ngày 28, 29/5/1997, bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 25 tháng 15 ngày tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”, trả tự do tại phiên toà. Chưa nộp án phí và tiền thu lợi bất chính; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/7/2002, bị Công an quận B, thành phố Hà Nội, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; Tại bản án số 484/HSST ngày 29/8/2006, bị Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 - Hà Nội) xử phạt 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; ngày 08/8/2012, bị Ủy ban nhân dân quận C đưa vào cơ sở chữa bệnh; Tại bản án số 329/HSST ngày 30/10/2015, bị Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2 Hà Nội) xử miễn trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
2. Đỗ Đắc T, sinh năm 1964; giới tính: Nam; số VneID 001064039843; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Số A ngõ A S, phường B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đắc C và bà Nguyễn Thị M (đều đã chết); tiền án: Tại bản án số 364/HSST ngày 12/3/1998, bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Chưa nộp tiền phạt; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 31/5/1991, bị Công an quận B, thành phố Hà Nội, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” và “Chống người thi hành công vụ”; Ngày 30/11/1991, bị Công an quận B, thành phố Hà Nội, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 23/7/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 23/7/2025, tổ công tác Công an phường B, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ trên địa bàn. Khi đi đến ngõ A S, phường B, thành phố Hà Nội, tổ công tác phát hiện Đỗ Đắc T và Phạm Thế C1 đang dừng xe máy Honda Vision, biển kiểm soát: 29BA-060.84 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong lòng bàn tay trái của C1 có 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng, T và C1 khai là ma tuý Heroine mua về để sử dụng. Tổ công tác đưa T, C1 cùng toàn bộ tang vật về trụ sở Công an phường B để giải quyết.
Thu giữ của của Phạm Thế C1: 01 gói giấy bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động Oppo Reno8, Imei: 866876062891417 kèm sim 039.626.3xxx; 01 xe máy Honda Vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 29BA - 06084, số máy: JK03E6423374, số khung: RLHJK0345RZ507837 đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 4372/KL-KTHS ngày 01/8/2025 của Phòng K - Công an thành phố H xác định: chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,146 gam.
Ngày 23/7/2025, cơ quan điều tra đã dẫn giải Phạm Thế C1 xác định nơi C1 đã mua ma túy tại trước số nhà A A, phường H, thành phố Hà Nội. Không xác định được người phụ nữ đã bán ma túy cho C1.
Ngày 24/7/2025, cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thế C1 và Đỗ Đắc T nhưng không thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Kiểm tra điện thoại của C1 không thu giữ gì liên quan đến ma túy. Xét nghiệm Phạm Thế C1 và Đỗ Đắc T dương tính với chất MOP.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Thế C1 và Đỗ Đắc T: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/07/2025, C1 điều khiển xe máy Honda Vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 29BA-060.84 mượn của vợ là chị Nguyễn Kim N (sinh năm 1970; nơi cư trú: số C ngách H K, phường N, thành phố Hà Nội), đến gặp Đỗ Đắc T tại ngõ A S, phường B, thành phố Hà Nội. Tại đây, C1 và T nảy sinh ý định góp tiền mua ma túy Heroine về sử dụng, mỗi người góp 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). T đã đưa tiền cho C1, nhận được tiền C1 điều khiển xe đến bãi đất trống tại phố A, phường H, thành phố Hà Nội thì gặp và mua của người phụ nữ không rõ lai lịch 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Mua được ma túy, C1 cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đến gặp T tại ngõ A S, phường B, thành phố Hà Nội. C1 và T chưa kịp chia nhau số ma túy vừa mua được thì bị Công an phường B bắt quả tang. Nếu không bị phát hiện, C1 và T sẽ chia đều số ma túy vừa mua được rồi tự sử dụng riêng. Chiếc điện thoại bị thu giữ của Phạm Thế C1 sử dụng liên lạc với gia đình bạn bè, không sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision, màu đỏ đen, biển kiểm soát: 29BA – 06084, số máy: JK03E6423374, số khung: RLHJK0345RZ507837, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Nguyễn Kim N, vợ Phạm Thế C1. Ngày 23/7/2025, C1 mượn xe của chị N để đi có việc, không cho chị N biết việc C1 tàng trữ trái phép chất ma túy. Xét thấy, không liên quan đến hành vi phạm tội của C1 nên cơ quan điều tra đã trả chiếc xe máy cho chị N. Chị N nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Về người phụ nữ bán ma túy cho Phạm Thế C1, do C1 khai không biết họ tên, địa chỉ của người bán ma túy; việc mua bán ma túy là trực tiếp, cơ quan điều tra đã dẫn giải C1 xác định nơi mua ma túy và đối tượng bán ma túy nhưng C1 không nhận ra được người đã bán ma túy. Rà soát camera và nhân chứng xác định không ai biết việc. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.
Với nội dung trên bản cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 04/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội truy tố bị cáo Phạm Thế C1, Đỗ Đắc T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025), tuyên bố bị cáo Phạm Thế C1, Đỗ Đắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, đề nghị xử phạt: bị cáo C1 từ 40 tháng tù đến 46 tháng tù; bị cáo T từ 40 tháng tù đến 46 tháng tù.
Về vật chứng:
- - Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định.
- + Trả lại cho bị cáo C1 01 điện thoại di động Oppo Reno8, Imei: 866876062891417 kèm 01 sim (máy cũ, đã qua sử dụng).
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thế C1 và Đỗ Đắc T khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 23/7/2025, tại ngõ A S, phường B, thành phố Hà Nội, Phạm Thế C1 và Đỗ Đắc T có hành cất dấu 0,146 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phường B phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Thế C1, Đỗ Đắc T có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025).
- Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử nhận thấy: hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, các bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì thoả mãn nhu cầu cá nhân các bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt khác hành vi phạm tội của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:
Tại bản án số 638/HSST ngày 28, 29/5/1997, bị cáo Phạm Thế C1 bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 25 tháng 15 ngày tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân”; tại bản án số 364/HSST ngày 12/3/1998, bị cáo Đỗ Đắc T bị Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, đều chưa được xoá án tích mà các bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025). Ngoài ra các bị cáo còn là người có nhân thân xấu: bị cáo Phạm Thế C1 từng bị xử phạt hành chính và xét xử về tội: Ngày 30/7/2002, Công an quận B xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 08/8/2012, UBND quận C đưa vào cơ sở chữa bệnh (cai nghiện bắt buộc) ; bản án số 484/HSST ngày 29/8/2006, Toà án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 32 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý ; bản án số 329/HSST ngày 30/10/2015, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử Miễn trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đỗ Đắc T từng bị xử phạt hành chính: Ngày 31/5/1991, Công an quận B xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và Chống người thi hành công vụ; Tháng 30/11/1991, Công an quận B xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc. Nhưng các bị cáo không lấy đây làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện bị cáo là người rất coi thường pháp luật vì vậy cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025) để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
- Về vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trước khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể cho từng bị cáo, các bị cáo cùng nhau góp tiền đi mua ma tuý, khi mua được ma tuý thì sẽ chia đôi mỗi người một nửa vì vậy bị cáo Phạm Thế C1 và Đỗ Đắc T có vị trí, vai trò ngang nhau trong vụ án.
Hội đồng xét xử căn cứ Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo để xem xét, cân nhắc mức hình phạt cho phù hợp với từng bị cáo.
- Xử lý vật chứng:
- - Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì, hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy này.
- - Đối với 01 điện thoại di động Oppo Reno8, kèm sim 039.626.3xxx thu giữ của bị cáo Phạm Thế C1 là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại chiếc điện thoại này cho bị cáo.
Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội.
- Đối với hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý” của Phạm Thế C1, Đỗ Đắc T vào ngày 23/7/2025. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã xác định, Phạm Thế C1, Đỗ Đắc T không trong thời hạn cai nghiện ma tuý hoặc điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế; không trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý; không trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma tuý và không trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý; không trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma tuý tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma tuý bằng thuốc thay thế. Căn cứ Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 4 Điều 69 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố H để xử lý. Ngày 17/10/2025, Công an phường B,Hà Nội đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Phạm Thế C1 và Đỗ Đắc T.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thế C1, Đỗ Đắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025):
Xử phạt bị cáo Phạm Thế C1 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 23/7/2025.
Xử phạt bị cáo Đỗ Đắc T 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang là ngày 23/7/2025.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ 01(một) phong bì niêm phong dán kín, trên các mép niêm phong có chữ ký của Giám định viên, đương sự, người chứng kiến, cán bộ Công an phường cùng hình dấu của Công an phường B, bên trong có chứa ma túy Heroin thu giữ của bị cáo Phạm Thế C1 theo kết luận giám định 4372/KL-KTHS ngày 01/8/2025 của Phòng K - Công an thành phố H.
- - Trả lại cho bị cáo Phạm Thế C1 01 điện thoại di động Oppo Reno8, Imei: 866876062891417 kèm 01 sim (máy cũ, đã qua sử dụng).
Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 Hà Nội theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản số 66/KV1-2025 ngày 25/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Nam Hải |
Bản án số 221/2025/HS-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 221/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Thế C1, Đỗ Đắc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
