TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 210/2025/HS-ST Ngày: 16 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Tráng, ông Trịnh Văn Trồi
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đại – Kiểm sát viên.
Ngày 16/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 200/2025/TLST-HS ngày 26/11/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2025/QĐXXST-HS ngày 02/12/2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Tùng L, sinh ngày 10/07/1992; CCCD số [...], cấp ngày 12/02/2023; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: số C ngõ C T, phường H, thành phố Hà Nội. Nơi ở trước khi bị bắt: Chung cư C, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Lê Công Đ; con bà: Đặng Thị D; Chưa có vợ, con; D1 chỉ bản số 3018 do Công an phường K lập ngày 25/09/2025.
Tiền án: Bản án số 270/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân quận Hà Đông (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm 03 tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/02/2025;
Tiền sự: Không.
Bị can bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/9/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt.
2. Nguyễn Thị Đ1, sinh ngày 28/03/1992; CCCD số [...]; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKHKTT: 32 ngõ H Cầu Đ, H, Hà Nội và nơi ở hiện tại: Căn hộ 509 Chung cư C phường K, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Thọ Đ2 (đã chết); con bà: Phạm Thị H; Chồng: Vũ Đình Quang D2 (đã chết), con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2023; D1 chỉ bản số 3107 do Công an phường K lập ngày 25/09/2025.
Tiền án: Bản án số 270/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông (cũ), thành phố Hà Nội xử phạt 02 năm 03 tháng tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được hoãn chấp hành hình phạt tù theo Quyết định số 07/2024/THAHS-QĐ ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông (cũ), thành phố Hà Nội;
Tiền sự: Không.
Bị can đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1978 CCCD số [...], cấp ngày 26/5/2022. Chỗ ở hiện tại: A4, tập thể S, phường K, Hà Nội. Điện thoại: 0866.585.xxx. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án thể hiện Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
Khoảng tháng 08/2025, Lê Tùng L và Nguyễn Thị Đ1 thuê nhà và ở cùng nhau tại địa chỉ P chung cư C, phường K, thành phố Hà Nội, hai người chưa đăng ký kết hôn nhưng có một người con chung sinh năm 2023. Do bản thân không có việc làm ổn định, không có tiền chi tiêu sinh hoạt hàng ngày nên Lê Tùng L nảy sinh ý định lên mạng tìm mua ma túy dạng “đá” để cùng Nguyễn Thị Đ1 bán lại kiếm lời.
Khoảng 20 giờ ngày 17/9/2025, Lê Tùng L lên mạng xã hội Facebook tìm mua 3.000.000 đồng tiền ma túy dạng “đá” của một người không quen biết, hẹn giao ma túy tại sảnh chung cư CT6C, sau khi trao đổi thỏa thuận mua ma túy thì L đã xóa hết tin nhắn. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày tại sảnh chung cư CT6C, Lê Tùng L nhận được 01 hộp giấy bọc kín do 01 người nam giới mặc áo hãng xe ôm công nghệ G (không rõ nhân thân, lai lịch) giao đến. L thanh toán cho người này số tiền 3.000.000 đồng, rồi cầm hộp giấy mang về phòng ngủ tại phòng 509 chung cư CT6C. Tại đây, L mở hộp giấy ra kiểm tra bên trong thấy có 01 túi nilông kích thước (04x07) cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy dạng “đá”. Thấy L mang hộp giấy về phòng thì Nguyễn Thị Đ1 hỏi “trong hộp có gì đấy”, L trả lời là “ma túy đá” và bảo Đ1 nếu có ai hỏi mua thì bảo L để cùng bán lại, Đ1 đồng ý. Sau đó, L lấy một phần ma túy để sử dụng cho bản thân, số ma túy còn lại L chia một phần ra đóng vào 01 túi nilông kích thước (02x04) cm, rồi dặn Đào nếu có khách hỏi mua thì báo giá 500.000 đồng, số ma túy còn lại L cất giấu tại phòng ngủ để bán kiếm lời.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/09/2025, khi Nguyễn Thị Đ1 đang ở phòng 509 chung cư CT6C thì có 01 người bạn xã hội tên “S” (không rõ nhân thân, lai lịch) sử dụng tài khoản Messenger “Hi Hi” gọi điện và nhắn tin vào tài khoản M “Komi Xie" trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh của Đ1 để hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Sau đó, Nguyễn Thị Đ1 sử dụng tài khoản zalo lập bằng số thuê bao 0834618668 nhắn tin đến tài khoản zalo của L lập bằng số thuê bao 0366994493 thông báo có S muốn mua 500.000 đồng ma túy đá. L đồng ý và bảo Đ1 hẹn khách mua đến khu vực hóa vàng phía sau chung cư CT6C để nhận ma túy vào lúc 21 giờ cùng ngày. Sau đó, S chuyển cho Đ1 số tiền 500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng T số 19032746747012 tên NGUYEN THI LAN đến tài khoản ngân hàng T của Đ1 số 6669916666 để mua ma túy. Sau khi nhận được tiền mua ma túy, Đ1 bảo S đi đến khu vực hóa vàng phía sau của chung cư CT6C để nhận ma túy, rồi báo lại với L về việc S đã chuyển tiền mua ma túy. Sau đó, L lấy 01 túi ma túy đá đã chuẩn bị trước đó gói vào 01 chiếc khẩu trang màu đen, cầm trong long bàn tay trái, rồi đi bộ từ căn hộ 509 xuống hành lang tầng 02 chung cư CT6C mục đích để ném túi ma túy xuống dưới đường phía sau chung cư cho khách mua.
Khoảng 21 giờ ngày 18/9/2025, khi Lê Tùng L đi đến trước căn hộ số 208 tòa chung cư CT6C, tổ dân phố số A, phường K, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an phường K kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại lòng bàn tay trái của Lê Tùng L 01 gói ma túy mà L khai mang đi giao cho khách mua nhưng chưa giao được. Cơ quan công an tiến hành lập biên bản tạm giữ, niêm phong tại chỗ túi ma túy và đưa L về trụ sở để điều tra làm rõ.
Cùng ngày 18/9/2025, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Tùng L tại Căn hộ S chung cư C, phường K, thành phố Hà Nội thu giữ: 01 (một) túi ni lông KT (04x07) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy) và 01 (một) chiếc cân điện tử.
Đến ngày 19/09/2025, Nguyễn Thị Đ1 đã đến cơ quan công an xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân.
* Vật chứng đã thu giữ:
- Thu giữ của Lê Tùng L khi bắt quả tang: 01 (một) túi ni lông, kích thước (02x04) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài túi ni lông gói bằng 01 chiếc khẩu trang màu đen (niêm phong ký hiệu M1) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, IMEI1: 35 398610 257933 4, IMEI2: 35 398610 247766 1, lắp sim số thuê bao 0366994493, đã qua sử dụng.
- Thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Tùng L: 01 (một) túi ni lông kích thước (04x07) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng được đựng trong 01 hộp kim loại màu bạc (niêm phong ký hiệu M2) và 01 (một) chiếc cân điện tử (niêm phong ký hiệu M3).
- Thu giữ do Nguyễn Thị Đ1 tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, IMEI1: 353075110038648, IMEI2: 353075110402836, lắp sim số 0834618668, đã qua sử dụng và số tiền 500.000 đồng tiền Ngân hàng N đang lưu hành,.
Tại bản Kết luận giám định số 4558/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K - Công an thành phố H đối với vật chứng thu giữ của Lê Tùng L và Nguyễn Thị Đ1, kết luận:
“...- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông để trong 01 khẩu trang màu đen (ký hiệu M1) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,276 gam là ma túy loại Methamphetamine.
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông để trong 01 hộp kim loại màu bạc (ký hiệu M2) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 2,927gam.
- 01 (một) cân điện tử (ký hiệu M3) có dính ma túy loại Methamphetamine.
- Trong mẫu nước tiểu của Lê Tùng L thu ngày 18/09/2025 có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine.
- Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Thị Đ1 thu ngày 19/09/2025 không tìm thấy chất ma túy”.
Tại Bản Cáo trạng số 110/CT-VKS-HS ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội truy tố Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 đều khai nhận và thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Các Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Hà Nội giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo L, Đ1. Sau khi phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, vị trí, vai trò, cũng như tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo L, Đ1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; điểm s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) khoản 1, khoản 2 (đầu thú với Đ1) Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 56 (đối với Đ1) Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung 2025: phạt L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; Đ1 từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù, tổng hợp với hình phạt 02 năm 03 tháng tù của Bản án số 270/2023/HS-ST ngày 28/9/2023, buộc Đ1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 năm 09 tháng tù đến 07 năm 03 tháng tù.
- + Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do các bị cáo không có việc làm, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
- + Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ và 01 cân điện tử có dính ma túy, đều được niêm phong.
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động thu giữ của 02 bị cáo và 500.000 đồng.
- + Đề nghị các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thẩm quyền: Vụ án xảy ra tại địa bàn phường K, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân Khu vực 6 theo quy định tại Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án: Việc chấp hành pháp luật của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án được xác định là hợp pháp; các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ được thu thập đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên là chứng cứ của vụ án.
[3]. Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền chi tiêu cá nhân, Lê Tùng L đã đi mua ma túy loại Methamphetamine và cùng Nguyễn Thị Đ1 bàn bạc, cất giấu để tìm khách bán kiếm lời. Khoảng 21 giờ ngày 18/9/2025 tại khu vực trước căn hộ số 208 tòa chung cư C, tổ dân phố số A, phường K, thành phố Hà Nội, khi Lê Tùng L mang theo 0,276 gam ma túy loại Methamphetamine để bán cho khách của Nguyễn Thị Đ1 với giá 500.000 đồng, nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an phường K phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Lê Tùng L và Nguyễn Thị Đ1 thu giữ thêm 2,927 gam ma túy loại Methamphetamine do L và Đ1 cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.
Cùng ngày 18/9/2025, Nguyễn Thị Đ1 đã đến cơ quan Công an đầu thú, khai nhận hành vi của bản thân. Tổng khối lượng ma túy loại Methamphetamine thu giữ của L và Đ1 là 3,203 gam.
Hành vi nêu trên của Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm”.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – Hà Nội truy tố Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điều, khoản nói trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Hai bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội đã gây ra.
Đối với đối tượng bán ma túy cho L thông qua mạng xã hội facebook. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng ngoài lời khai của L thì không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối tượng bán ma túy cho L.
Đối với đối tượng tên “S” sử dụng tài khoản Facebook “Hi Hi” là người liên lạc với Đ1 để mua ma túy ngày 18/09/2025. Nguyễn Thị Đ1 khai quen biết qua mạng xã hội, chỉ biết tên, ngoài ra không có thông tin gì khác. Ngoài lời khai của Nguyễn Thị Đ1 thì không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý đối tượng mua ma túy của Đ1.
Đối với tài khoản ngân hàng T số 19032746747012 đứng tên chị Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1978; trú tại số A Tập thể S, phường K, Hà Nội; làm nghề bán hàng ăn) chuyển số tiền 500.000 đồng cho Nguyễn Thị Đ1 để mua ma túy. Tại Cơ quan điều tra, chị L1 khai ngày 18/9/2025 có chuyển tiền giúp 01 người nam giới số tiền 500.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thị Đ1. Bản thân chị L1 không biết mục đích chuyển tiền để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Tùng L, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương xác định Lê Tùng L không thuộc diện cai nghiện ma túy hoặc điều trị cai nghiện hoặc quản lý sau cai nghiện ma túy. Vì vậy, hành vi của Lê Tùng L không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Ngày 06/11/2025, Công an phường K đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Tùng L2 về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
[5] Vụ án có hai bị cáo tham gia, mang tính đồng phạm giản đơn, bị cáo Lâm giữ vị trí, vai trò chủ mưu do người đã khởi xướng đi mua trái phép ma túy về để bán, còn bị bị cáo Đ1 với vai trò giúp sức cho L2 trong việc bán trái phép ma túy, nên hình phạt áp dụng đối với L2 phải cao hơn Đ1.
[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Tại Bản án số 270/2023/HS-ST, ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân quận Hà Đông (nay là Tòa án khu vực 6), thành phố Hà Nội, đều đã kết án L2, Đ1, mỗi người là 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Do vậy, lần phạm này của L2, Đ1 đều thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo L2 đã chấp hành xong hình phạt tù của bản án này; còn bị cáo Đ1 chưa chấp hành hình phạt tù do được hoãn theo Quyết định số 07/2024/THAHS-QĐ ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông (cũ), thành phố Hà Nội, nên đối với Đ1 cần phải áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.
Về tình tiết giảm nhẹ: Cả hai bị cáo L2, Đ1 đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo”; bị cáo Đ1 sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú, khai nhận hành vi của bản thân, là tình tiết được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập.
[8] Về nguồn gốc số ma tuý: Trong quá trình điều tra, L2 khai nhận đối tượng bán ma túy cho L2 thông qua mạng xã hội facebook. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng ngoài lời khai của L2 thì không có tài liệu nào khác để chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối tượng bán ma túy cho L2.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, IMEI1: 353986102579334, IMEI2: 353986102477661, lắp sim số 0366994493, đã qua sử dụng, của Lê Tùng L và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, IMEI1: 353075110038648, IMEI2: 353075110402836, lắp sim số 0834618668, đã qua sử dụng, của Nguyễn Thị Đ1 và số tiền 500.000 đồng thu giữ của Đ1: Xét thấy đây là các phương tiện sử dụng vào việc phạm tội và tiền liên quan đến giao dịch bất hợp pháp nên căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- - Đối với số ma tuý loại Methamphetamine đã thu giữ là 3,203 gam (0,276 gam + 2,927 gam), cơ quan giám định đã thu mẫu tổng cộng là 0,11 gam (0,025gam + 0,060gam), số còn lại 3,093 gam và 01 (một) cân điện tử có dính ma tuý Methamphetamine, tất cả được niêm phong trong 02 phong bì có chữ ký niêm phong của giám định viên Vũ Việt C, cán bộ Công an Đỗ Mạnh C1, đối tượng Lê Tùng L (BL 35,36): Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ.
[10] Về nghĩa vụ chịu án phí: Các Bị cáo Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2025, phạt: Lê Tùng L: 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2025.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2025, phạt: Nguyễn Thị Đ1: 05 (năm) tù; tổng hợp với hình phạt 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù của Bản án số 270/2023/HS-ST, ngày 28/9/2023 của Toà án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội (nay là Tòa án khu vực 6 – Hà Nội); buộc Nguyễn Thị Đ1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2025.
4. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
4.1. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, IMEI1: 353986102579334, IMEI2: 353986102477661, lắp sim số 0366994493, đã qua sử dụng, thu giữ của Lê Tùng L;
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, IMEI1: 353075110038648, IMEI2: 353075110402836, lắp sim số 0834618668, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị Đ1;
- - 500.000 (năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Đ1;
4.2. Tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý loại Methamphetamine còn lại 3,093 gam (sau khi cơ quan giám định đã thu mẫu) và 01 (một) cân điện tử có dính ma tuý Methamphetamine, tất cả được niêm phong trong 02 phong bì có chữ ký niêm phong của giám định viên Vũ Việt C, cán bộ Công an Đỗ Mạnh C1, đối tượng Lê Tùng L.
(Toàn bộ số vật chứng, tình trạng vật chứng hiện đang lưu giữ kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2025. Số tiền 500.000 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.1054168 của Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội mở tại Phòng giao dịch số A - Kho bạc Nhà nước Khu vực I theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 25/11/2025)
5. Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Lê Tùng L, Nguyễn Thị Đ1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo liên quan đến phần của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CTPT SƠ THẨM |
| Nguyễn Thị Tuyết Mai |
Nơi nhận:
- - TAND TP. Hà Nội;
- - VKSND Q. Hà Đông;
- - Công an Q. Hà Đông;
- - CC THA Q. Hà Đông;
- - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
- - Bị cáo; NLQ;
- - UBND nơi các bị cáo cư trú;
- - Lưu: Hồ sơ, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 210/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 210/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm - Đào
