Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - NINH BÌNH

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 04 - 11 -2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Tuấn và bà Nguyễn Thị Hoan
  • Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Việt Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuyến – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2025 đối với:

- Bị cáo: Phạm Mạnh T – Sinh ngày 19 tháng 5 năm 1990 tại: tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm A T, xã Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Mạnh T1 và con bà Nguyễn Thị H; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H1 và 01 con sinh năm 2014;

Tiền án:

  • Tại bản án số 07/2010/HSST ngày 25/5/2010, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự;
  • Tại bản án số 45/2014/HSST ngày 25/11/2014, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự;
  • Tại bản án số 13/2016/HSST ngày 29/7/2016, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự;
  • Tại bản án số 33/2019/HS-ST ngày 17/10/2019, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành phần trách nhiệm dân sự.
  • Tại bản án số 29/2023/HS-ST ngày 15/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự:

  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28/QĐHC ngày 25/7/2009, Công an huyện Y xử phạt bị cáo 200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt;
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐHC ngày 11/9/2009, Công an xã Y xử phạt bị cáo 200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt;
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 120/QĐ-XPHC ngày 10/7/2019, Công an huyện Y xử phạt bị cáo 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt;
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 06/6/2022, Công an xã Y xử phạt bị cáo 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt;
  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 19/9/2022, Công an xã Y xử phạt bị cáo 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt;

Nhân thân:

  • Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC ngày 22/2/2009, Công an xã Y xử phạt bị cáo 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành ngày 22/2/2009;
  • Tại Quyết định số 825/QĐ-UBND ngày 18/9/2009, Ủy ban nhân dân huyện Y, Ninh Bình ra quyết định “Đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc”, thời hạn 24 tháng. Ngày 01/9/2010, bị cáo được miễn chấp hành thời gian bắt buộc chữa bệnh;
  • Tại Quyết định số 01/ QĐ-CT ngày 16/11/2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Y áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bị cáo trong thời hạn 03 tháng. Bị cáo chấp hành xong ngày 16/02/2023.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/5/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N theo Quyết định tạm giam số 07/2025/HSST-QĐTG ngày 13/10/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình (có mặt).

- Bị hại:

  • + Ông Lê Văn T2, sinh năm: 1950; địa chỉ: tổ E, phường T, tỉnh Ninh Bình (có mặt);
  • + Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970; địa chỉ: xóm B T, xã Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
  • + Anh Trần Mạnh T3, sinh năm 1996; địa chỉ: xóm T, xã Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
  • + Chị Phạm Thị H2, sinh năm: 1995; địa chỉ: xóm T, xã Y, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)
  • + Anh Phạm Quế V, sinh năm: 1993; địa chỉ: xóm A, xã Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Anh Nguyễn Đại D, sinh năm 1984, nơi ĐKHKTT: tổ A, phường V, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: số H ngõ B phố K, phường H, thành phố Hà Nội (có mặt)

- Người làm chứng: Anh Phạm Quyết T4 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 12/3/2025 đến ngày 21/4/2025, Phạm Mạnh T, sinh năm 1990, trú tại xóm A T, xã Y, tỉnh Ninh Bình đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/03/2025, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave (xe Tuân mượn của một người bạn tên H3 ở thành phố Hà Nội, T không nhớ biển số xe và địa chỉ của H3) đi từ nhà đến nhà thờ họ Phạm H4 để ăn giỗ họ. Khi đến nhà thờ thì không còn chỗ để xe nên T điều khiển xe đi vào sân nhà bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970, trú tại xóm B T, xã Y, tỉnh Ninh Bình ngay cạnh nhà thờ, dựng xe ở sân. Sau khi dựng xe, T đi đến xe mô tô Honda Wave RSX, màu xám đen, biển kiểm soát 35B2-949.66 của bà X cũng đang dựng ở sân, đứng cạnh phía bên trái để soi gương thì thấy yên xe của bà X bị kênh hở, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong cốp xe của bà X nên dùng tay phải nâng yên xe lên, sau đó dùng tay trái nâng, giữ yên xe còn tay phải thò vào trong cốp xe, tìm tài sản để trộm cắp, phát hiện dưới đáy cốp xe có 01 túi bóng ni-lông màu trắng bên trong có đựng 01 sổ hộ khẩu và số tiền 94.900.000 đồng, trong đó 32.500.000 đồng là tài sản của bà X và 62.400.000 đồng là tiền của vợ chồng con gái ruột bà X là chị Phạm Thị H2, sinh năm 1995 và anh Trần Mạnh T3, sinh năm 1996, cùng trú tại xóm T, xã Y, tỉnh Ninh Bình gửi bà X giữ hộ. T lấy chiếc túi bóng ra khỏi cốp xe, mở ra kiểm tra thì thấy bên trong túi bóng có nhiều tiền mặt nên đã nhanh chóng cho chiếc túi bóng vào túi áo ngực phía trong áo khoác của mình, đóng cốp xe mô tô của bà X lại rồi lấy xe mô tô nhãn hiệu Wave đi về nhà mình cất giấu. Sáng ngày 13/3/2025, T lấy chiếc túi bóng bên trong có tài sản trộm cắp được ra kiểm tra thì thấy có 01 sổ hộ khẩu và tiền mặt, kiểm đếm được 94.900.000 đồng, T cất hết số tiền này vào trong người, còn sổ hộ khẩu T để lại trong chiếc túi bóng ni-lông màu trắng, mang đến khu vực huyện K, tỉnh Ninh Bình (nay là xã K, tỉnh Ninh Bình) ném xuống sông. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi đến thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh tiêu sài hết số tiền 94.900.000 đồng.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/3/2025, T đi bộ vào C thuộc tổ A, phường T, tỉnh Ninh Bình với mục đích tìm sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản. Tại đây, T quan sát thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát 35B2 – 69661 của ông Lê Văn T2, sinh năm 1950, trú tại tổ E, phường T, tỉnh Ninh Bình đang dựng trong công viên, chìa khoá vẫn cắm trong ổ khóa điện, không có người trông coi. T lén lút đi bộ đến vị trí để xe mô tô, ngồi lên xe, vặn chìa khóa điện, đề nổ máy rồi nhanh chóng điều khiển xe rời khỏi công viên đi đến thành phố Hà Nội tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi, khi đến địa phận tỉnh Hà Nam (nay là phường H tỉnh Ninh Bình), T dừng xe kiểm tra thấy bên trong cốp có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 35B2 – 69661; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô; 01 căn cước công dân; 01 thẻ bảo hiểm y tế; 01 giấy phép lái xe đều mang tên Lê Văn T2, kiểm tra xong T tiếp tục điều khiển xe đi đến thành phố Hà Nội, trên đường đi Tuân vứt 01 căn cước công dân, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 giấy phép lái xe của ông T2. Khi đến thành phố Hà Nội, T điều khiển xe mô tô đi vòng quanh các tuyến đường để tìm nơi bán xe. Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đến ngõ B K, phường G, Quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường H, thành phố Hà Nội), T thấy phía bên đường có cửa hàng “Sửa chữa, mua bán xe máy cũ Đ” đang còn mở cửa, T dựng xe trước cửa hàng vào gặp anh Nguyễn Đại D, sinh năm 1984 (chủ cửa hàng) bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35B2 - 69661 vừa trộm cắp được. Anh D kiểm tra xe thấy xe còn tốt, đầy đủ giấy tờ, hỏi T về nguồn gốc của xe thì T nói là xe của T mới mua, không dùng nên bán. Anh Dương T5 thật nên đồng ý mua xe với giá 17.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận giá bán, T viết giấy bán xe nhưng không ghi tên mình mà ghi tên người bán là Phạm Đình T6, địa chỉ Y - Y - Ninh Bình (theo căn cước công dân số [...] Tuân nhặt được trước đó). Viết xong, T ký tên người bán là Phạm Đình T6 đưa cho anh D. Anh Dương C giấy bán xe kiểm tra thông tin đầy đủ, đúng như thỏa thuận nên chuyển khoản cho T 15.000.000 đồng và đưa cho T 2.000.000 đồng tiền mặt. Nhận tiền xong, T đưa đăng ký xe và giấy chứng nhận bảo hiểm và xe mô tô BKS: 35B2-69661 cho anh D rồi rời đi và tiêu sài cá nhân hết số tiền trên. Đêm ngày 27/3/2025, anh D đã sử dụng điện thoại di động truy cập vào ứng dụng mạng xã hội Facebook trên nhóm “Tam Điệp 24h (Mua bán & Rao Vặt)” thì phát hiện được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát 35B2 – 69661 vừa mua là tài sản kẻ gian trộm cắp tại phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình). Ngày 28/03/2025, anh D đã liên hệ với Công an phường B và tự nguyện giao nộp xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát: 35B2-69661, cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô mang tên ông Lê Văn T2 cho Công an phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình) để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm, Công an phường B đã chuyển vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N. Ngày 15/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát: 35B2-69661 mà T trộm cắp của ông T2. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại AIRBLADE, dung tích 124, màu sơn đỏ đen trắng trị giá 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Lần thứ ba: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 21/4/2025, T đi bộ đến khu vực đường nội đồng thuộc xóm A, xã Y, tỉnh Ninh Bình thì phát hiện 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Dream, màu nâu, biển kiểm soát: 29C1-13004 của anh Phạm Quế V, sinh năm 1993, trú tại xóm A, xã Y, tỉnh Ninh Bình đang dựng ở lề đường, chìa khoá để ở móc treo đồ bên hông phải xe, không có người trông coi, T đã nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên nên đi bộ đến vị trí để xe mô tô, ngồi lên xe, lấy chìa khoá đang để ở móc treo đồ bên hông phải xe, cắm chìa khoá vào ổ khóa điện, rồi nổ máy điều khiển xe mô tô đi đến thành phố Hà Nội. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, anh V phát hiện chiếc xe mô tô của mình đã bị trộm cắp, nghi ngờ T là người đã trộm cắp chiếc xe của mình nên đã liên lạc với em trai của T là anh Phạm Quyết T4, sinh năm 1992, trú tại xóm A T, xã Y, tỉnh Ninh Bình (bạn học của V), nhờ anh T4 tìm T mang chiếc xe về trả cho V. Tối ngày 21/4/2025, anh T4 điện thoại cho cho T, yêu cầu T mang chiếc xe trộm cắp của anh V về trả, T đồng ý. Đêm ngày 26/4/2025, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 29C1-13004 từ thành phố Hà Nội về nhà ở xóm A T, xã Y, tỉnh Ninh Bình dựng ở đường bê tông dân sinh trước nhà, gọi điện cho T4 nói: “Xe để ngoài cổng, ra lấy mang đưa cho thằng V”, rồi bỏ đi khỏi địa phương. Anh T4 nghe điện thoại của T đi bộ ra đường dân sinh trước cửa nhà dắt chiếc xe về nhà. Sáng ngày 26/4/2025 anh T4 đã mang chiếc xe này trả lại cho V.

Ngày 19/6/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N ra yêu cầu định giá tài sản chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Dream, màu nâu, biển kiểm soát: 29C1-13004 mà T trộm cắp của Anh V. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 25/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Dream, màu nâu, số máy 147035, biển kiểm soát 29C1-130.04 (xe đã qua sử dụng) trị giá 13.500.000 đồng (mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 4/5/2025, Phạm Mạnh T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đầu thú và đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSKV2 ngày 10 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Mạnh T ra trước Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh T từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 04/5/2025.
  • - Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
  • + Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 32.500.000 đồng;
  • + Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Trần Mạnh T3 và chị Phạm Thị H2 số tiền 62.400.000 đồng;
  • + Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Nguyễn Đại D số tiền 17.000.000 đồng.
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.595.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, ông Lê Văn T2 là bị hại trình bày: ngày 27/3/2025, bị cáo đã trộm cắp của ông chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát 35B2 – 69661. Hiện nay, ông đã nhận lại chiếc xe, ông không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Đại D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày: khoảng 21 giờ 15 phút ngày 27/3/2025, bị cáo mang chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen trắng, biển kiểm soát 35B2 – 69661 đến cửa hàng của anh và nói đây là chiếc xe bị cáo mua không có nhu cầu sử dụng muốn bán. Anh kiểm tra thấy xe có đầy đủ giấy tờ nên đã mua chiếc xe với giá 17.000.000 đồng. Sau khi mua xe, anh phát hiện đây là chiếc xe do bị cáo trộm cắp mà có nên đã giao nộp cho cơ quan công an. Anh yêu cầu bị cáo phải trả lại cho anh số tiền 17.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Ninh Bình đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Phạm Mạnh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Trong thời gian từ ngày 12/3/2025 đến ngày 21/4/2025, T đã lợi dụng sơ hở của bà Nguyễn Thị X, ông Lê Văn T2 và anh Phạm Quế V đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/3/2025, tại xóm B T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là xóm B T, xã Y, tỉnh Ninh Bình), T đã trộm cắp số tiền 32.500.000 đồng của bà Nguyễn Thị X, 62.400.000 đồng của anh Trần Mạnh T3 và chị Phạm Thị H2;

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/3/2025, tại tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (nay là tổ A, phường T, tỉnh Ninh Bình), T đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đỏ đen, trắng, biển kiểm soát 35B2-69661 trị giá 25.000.000 đồng của ông Lê Văn T2;

Lần thứ ba: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 21/4/2025, tại xóm A, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (nay là xóm A, xã Y, tỉnh Ninh Bình), T đã trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Super Dream, màu nâu, biển kiểm soát 29C1-130.04 trị giá 13.500.000 đồng của anh Phạm Quế V.

Tổng giá trị tài sản mà T trộm cắp trong 03 lần nêu trên là 133.400.000 đồng (một trăm ba mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

Tại điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“Điều 173: Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

...

g) Tái phạm nguy hiểm.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý chiếm đoạt số tiền 94.900.000 đồng của bà X, anh T2, chị H2, chiếc xe mô tô Honda Airblade trị giá 25.000.000 đồng của ông T2, chiếc xe mô tô Honda Super Dream trị giá 13.500.000 đồng của anh Phạm Quế V trong khi bị cáo đã tái phạm nguy hiểm. Đối chiếu với các quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, do đó việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Ninh Bình đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo đã 03 lần trộm cắp tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: bị cáo là người có nhân thân xấu, có nhiều tiền án, tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội với tính chất, mức độ táo bạo hơn; hành vi phạm tội của bị cáo diễn ra tại khu dân cư làm ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[5] Trong vụ án này, anh Phạm Quyết T4 giúp T trả lại chiếc xe mô tô Honda Super D1, anh T4 biết bị cáo đã trộm cắp chiếc xe mô tô của anh Phạm Quế V nhưng không tố giác tội phạm. Tuy nhiên anh T4 là em ruột bị cáo nên căn cứ vào khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Hình sự, anh T4 không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo chiếm đoạt số tiền 32.500.000 đồng của bà Nguyễn Thị X, chiếm đoạt số tiền 62.400.000 đồng của anh Trần Mạnh T3 và chị Phạm Thị H2. Bà X, anh T3 và chị H2 đều yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt nên buộc bị cáo phải trả lại cho bà X số tiền 32.500.000 đồng, trả lại cho anh T3 và chị H2 số tiền 62.400.000 đồng.

Đối với số tiền 17.000.000 đồng bị cáo nhận từ anh Nguyễn Đại D, anh D không biết chiếc xe mô tô anh mua của bị cáo là tài sản do phạm tội mà có, anh D yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên nên buộc bị cáo phải trả lại cho anh D số tiền 17.000.000 đồng.

Ông Lê Văn T2 và anh Phạm Quế V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án và phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền khánh cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Phạm Mạnh T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 04/5/2025.

  3. Về trách nhiệm dân sự:
    • + Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Nguyễn Thị X số tiền 32.500.000 đồng (ba mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng);
    • + Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Trần Mạnh T3 và chị Phạm Thị H2 số tiền 62.400.000 đồng (sáu mươi hai triệu bốn trăm nghìn đồng);
    • + Buộc bị cáo phải trả lại cho anh Nguyễn Đại D số tiền 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Về án phí:

    Buộc bị cáo Phạm Mạnh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.595.000 đồng (năm triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 2 – Ninh Bình;
  • - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Thu Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 04/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Mạnh T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger