|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
|
Bản án số: 21/2025/HNGĐ-PT
Ngày 11 - 12 - 2025
V/v Ly hôn, con chung giữa anh
Đại và chị Huyền.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tử Lượng
Ông Nguyễn Đức Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà:
Bà Đặng Thị Phương N - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2025/TLPT-HNGĐ ngày 22-10-2025 về Ly hôn, con chung khi ly hôn.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 04-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Đoàn Văn Đ, sinh năm 1990; Nơi thường trú: Xóm S, xã G, tỉnh Ninh Bình. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an tỉnh P;
- - Bị đơn: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1989; Nơi thường trú: Xóm S, xã G, tỉnh Ninh Bình; Nơi tạm trú hiện nay: Số nhà E, tổ A, khu E, T, phường V, tỉnh Phú Thọ;
- - Người kháng cáo: Anh Đoàn Văn Đ là nguyên đơn trong vụ án
Tại phiên toà phúc thẩm: Anh Đ, chị H đều vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 7 năm 2025, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn anh Đoàn Văn Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Thị Thu H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã G (xã G cũ), tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04-4-2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau tại xã G, tỉnh Ninh Bình. Mấy năm trở lại đây vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau do tính tình, lối sống không hòa hợp, bất đồng ý kiến, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và đã sống ly thân, chấm dứt mọi quan hệ không ai quan tâm tới ai từ tháng 5 năm 2025 đến nay. Nay anh Đ xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ nên anh Đ xin ly hôn chị H.
Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Đoàn Việt A, sinh ngày 12-11-2012; Đoàn Huyền T, sinh ngày 25-9-2014 và Đoàn Khánh N1, sinh ngày 03-02-2019. Hiện nay cháu Đoàn Việt A đang ở với anh, còn cháu T và cháu N1 đang ở với chị H tại nhà bố mẹ đẻ của chị H ở Phú Thọ. Khi ly hôn anh nhận nuôi cả 3 con, hiện anh làm kinh doanh, bán hàng thu nhập khoảng 16.000.000 đồng/tháng, anh đảm bảo nuôi được ba con khôn lớn trưởng thành mà không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi ba con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ nần liên quan kinh tế với ai nên anh Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lê Thị Thu H trình bày:
Chị nhất trí lời khai của anh Đ về việc kết hôn cũng như mâu thuẫn và thời gian vợ chồng sống ly thân. Nay anh Đ làm đơn xin ly hôn, chị cũng xác định cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không thể hàn gắn đoàn tụ nên chị hoàn toàn nhất trí ly hôn anh Đ. Vợ chồng có ba con chung như anh Đ trình bày. Sau khi sinh cháu N1, chị đã triệt sản nên sau này chị sẽ không sinh thêm được con nữa, còn anh Đ chắc chắn sẽ lấy vợ khác và có con, nay ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con gái là Đoàn Huyền T và Đoàn Khánh N1, chị đồng ý để anh Đ nuôi dưỡng con trai là Đoàn Việt A, hiện nay chị làm công nhân may thu nhập bình quân 12.000.000 đồng/tháng, chị đảm bảo nuôi được hai con T và Ngọc khôn L trưởng thành, chị và anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung, không nợ nần liên quan kinh tế với ai nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Kết quả thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân G như sau: Đương sự trình bày về việc kết hôn tại UBND xã là đúng. Sau khi kết hôn anh Đ và chị H chung sống với nhau tại nhà bố mẹ anh Đ ở xã G (xã G cũ), tỉnh Ninh Bình. Quá trình chung sống vợ chồng anh Đ và chị H xảy ra mâu thuẫn do tính tình, lối sống không hoà hợp, vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2025 đến nay, nay anh Đ xin ly hôn chị H, chị H cũng nhất trí ly hôn anh Đ, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh Đ, chị H có ba con chung chưa thành niên như các đương sự trình bày, nay anh Đ xin nuôi cả 3 con chung. Còn chị Huyền N2 nuôi con là cháu T và cháu N1, chị đồng ý để anh Đ nuôi con là cháu A. Quan điểm của địa phương: Cháu T và cháu N1 đều là con gái, hiện cả hai cháu đang ở với chị H, còn cháu A đang ở với anh Đ, để đảm bảo sự ổn định cũng như quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho con chung, đề nghị Tòa án giao chị H tiếp tục trực tiếp nuôi cháu T và cháu N1, giao anh Đ tiếp tục trực tiếp nuôi cháu A, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Về tài sản, nghĩa vụ về tài sản: Anh Đ và chị H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết là quyền của các đương sự.
Tại bản án số 10/2025/HNGĐ-ST ngày 04-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình quyết định. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Đoàn Văn Đ và chị Lê Thị Thu H.
Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Việt A, sinh ngày 12-11-2012 cho anh Đ tiếp tục trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục. Giao con chung là cháu Đoàn Huyền T, sinh ngày 25-9-2014 và Đoàn Khánh N1, sinh ngày 03-02-2019 cho chị H tiếp tục trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04-9-2025 anh Đoàn Văn Đ là nguyên đơn trong vụ án có đơn kháng cáo với nội dung: Toà án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình đã giao con chung là cháu Đoàn Việt A, sinh ngày 12-11-2012 cho anh Đ chăm sóc và nuôi dưỡng. Giao con chung là cháu Đoàn Huyền T, sinh ngày 25-9-2014 và cháu Đoàn Khánh N1, sinh ngày 03-02-2019 cho chị H nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Anh Đ xin kháng cáo một phần bản án về vấn đề nuôi con khi ly hôn, anh Đ đề nghị được nhận nuôi cháu Đoàn Việt A, sinh ngày 12-11-2012, cháu Đoàn Huyền T, sinh ngày 25-9-2014 và cháu Đoàn Khánh N1, sinh ngày 03-02-2019 và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Vì H không có công ăn việc làm ổn định, không có nhà cửa để đảm bảo sinh hoạt.
Tại phiên toà phúc thẩm: Anh Đoàn Văn Đ đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 Công an tỉnh P; chị Lê Thị Thu H đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến: Về tố tụng, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã tuân theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.
Về nội dung của vụ án: Xét thấy mẫu thuẫn giữa anh Đoàn Văn Đ và chị chị Lê Thị Thu H đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về con chung hiện nay anh Đ và chị H đều có mức thu nhập ổn định đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Cháu Đoàn Huyền T và cháu Đoàn Khánh N1 đều là con gái đang trong độ tuổi phát triển Tòa án cấp sơ thẩm giao cả hai con cho chị H nuôi dưỡng, giao cháu Đoàn Việt A là con trai cho anh Đ nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Đ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên án sơ thẩm. Án phí giải quyết theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét đơn kháng cáo của anh Đoàn Văn Đ làm trong thời hạn luật định phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 272; khoản 1 Điều 273; Điều 276 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết.
[2] Xét kháng cáo của anh Đoàn Văn Đ về con chung thì thấy: Quá trình chung sống vợ chồng có ba con chung cháu Đoàn Việt A, sinh ngày 12-11-2012, cháu Đoàn Huyền T, sinh ngày 25-9-2014 và cháu Đoàn Khánh N1, sinh ngày 03-02-2019. Tại đơn kháng cáo anh Đ không đồng ý cho chị H nuôi cháu Đoàn Huyền T và cháu Đoàn Khánh N1, anh Đ nhận nuôi dưỡng cả ba con chung và không yêu cầu chị H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho anh. Tại cấp sơ thẩm bản thân chị H cũng có nguyện vọng nhận nuôi cháu T và cháu N1, chị H đồng ý để cháu A cho anh Đ nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Xét thấy chị H có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con là cháu T và cháu N1, hiện cháu T và cháu N1 đang ở với chị H tại nhà bố mẹ chị H tại địa chỉ số nhà E, tổ A, khu E, T, phường V, tỉnh Phú Thọ, hơn nữa hai cháu đều là con gái, cháu T có nguyện vọng xin ở với chị H; còn cháu Đoàn Việt A đang ở với gia đình anh Đ và có nguyện vọng xin ở với bố, cháu lại là con trai đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý nên rất cần có sự dạy bảo, chăm sóc của người bố để cháu phát triển bình thường và cũng là để bảo đảm sự ổn định về chỗ ở, sinh hoạt, học tập hàng ngày của các cháu là chính đáng và phù hợp với quy định của pháp luật, cũng như quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho các cháu nên Hội đồng xét xử sẽ giao cháu Đoàn Huyền T và cháu Đoàn Khánh N1 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Đoàn Việt A cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Tòa án cấp sơ thẩm đã giao cháu T và cháu N1 cho chị H, giao cháu A cho anh Đ nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của cả hai bên, phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Đ về việc nuôi dưỡng con chung.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của anh Đoàn Văn Đ không được chấp nhận nên anh Đ phải nộp 300.000đ.
[4] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308; Điều 147; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Không chấp nhận kháng cáo của anh Đoàn Văn Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Đoàn Văn Đ và chị Lê Thị Thu H.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Đoàn Việt A, sinh ngày 12-11-2012 cho anh Đoàn Văn Đ tiếp tục trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục. Giao con chung là cháu Đoàn Huyền T, sinh ngày 25-9-2014 và Đoàn Khánh N1, sinh ngày 03-02-2019 cho chị Lê Thị Thu H tiếp tục trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đoàn Văn Đ phải nộp án phí ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo Biên lai thu số 0000055 ngày 15-7-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, anh Đoàn Văn Đ đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Đoàn Văn Đ phải nộp 300.000 đồng nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0000787 ngày 04-9-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Anh Đ đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lại Văn Tùng |
6
Bản án số 21/2025/HNGĐ-PT ngày 11/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, con chung
- Số bản án: 21/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Đ - Lê Thị Thu H
