TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 205/2025/DS-ST Ngày 08 tháng 12 năm 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Việt - Bà Nguyễn Thị Hân
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 01/2025/TLST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2025/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 10 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 340/2025/QĐST-DS, ngày 11 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần H. Địa chỉ trụ sở chính: Số E đường N, phường L, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng L - Tổng giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Đức Q - Tổng Giám đốc Ngân hàng Q1. Văn bản ủy quyền số: 12402/2023/UQ - TGĐ12 ngày 29/12/2023.
- Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Lê Anh T - Chuyên viên xử lý nợ. Địa chỉ: Số A đường T, phường C, tỉnh An Giang; ông Hà Thế L1 - Phó Giám đốc Phòng xử lý nợ khách hàng cá nhân thế chấp; ông Ngô Hùng S - Chuyên viên xử lý nợ; ông Ngô Tấn K - Chuyên viên tố tụng. Văn bản ủy quyền số: 5228/2025/UQ - TGĐ12 ngày 20/5/2025. Địa chỉ liên lạc: Số A đường T, phường L, tỉnh An Giang. Ông Nguyễn Lê Anh T có đơn ngày 10/11/2025 đề nghị xét xử vắng mặt. Những người đại diện theo ủy quyền còn lại vắng mặt.
- Bị đơn:
- 2.1. Bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số A P, khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
2.2. Ông Huỳnh Nguyên V, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số C khóm Đ, phường L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tố tụng ông Nguyễn Lê Anh T và ông Ngô Hùng S đại diện ủy quyền nguyên đơn trình bày:
Ngày 01/6/2022 Ngân hàng Thương mại cổ phần H chi nhánh A (say đây gọi tắt là Ngân hàng) và bà Lê Thị Kim C thỏa thuận ký kết hợp đồng cho vay số: 03989/2022/HĐCV/RB/184519; Giấy nhận nợ ngày 01/6/2022 và Phụ lục giấy nhận nợ số: 01/2024/PL GNN ngày 26/7/2024. Theo đó, Ngân hàng cho bà Lê Thị Kim C vay 7.000.000.000 đồng, thời hạn vay 300 tháng, mục đích vay mua bất động sản tại thửa đất số 338 (hợp đồng cho vay ghi nhầm thửa số 339), tờ bản đồ số 9, địa chỉ thửa đất tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tỉnh An Giang); lãi suất từ ngày giải ngân lần đầu tiên đến ngày 18/9/2024 là 8.5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn, Ngân hàng có toàn quyền quyết định điều chỉnh lãi suất cho vay theo quy định tại Phụ lục.
Ngày 18/9/2023 Ngân hàng Thương mại cổ phần H chi nhánh A, Phòng G và bà Lê Thị Kim C ký hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: 182407.09513/2023/HĐCV. Theo đó, Ngân hàng cho bà Lê Thị Kim C vay 250.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay tiêu dùng, mua sắm vật dụng gia đình; lãi suất vay áp dụng từ ngày giải ngân lần đầu tiên đến ngày 18/9/2024 là 8.5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.
Ngày 02/02/2024 Ngân hàng Thương mại cổ phần H chi nhánh A, Phòng G và bà Lê Thị Kim C ký hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: 201757.04268/2024/HĐCV. Theo đó, Ngân hàng cho bà Lê Thị Kim C vay 740.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng, mục đích vay tiêu dùng, mua sắm vật dụng gia đình; lãi suất vay áp dụng từ ngày giải ngân lần đầu tiên đến ngày 02/02/2025 là 10.5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.
Ngân hàng đã giải ngân cho bà Lê Thị Kim C đủ số tiền vay nêu trên.
Để bảo đảm cho các khoản vay trên, Ngân hàng và bà Lê Thị Kim C, ông Huỳnh Nguyên V ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 013/LXN/2022/HĐTC ngày 21/6/2022. Tài sản bảo đảm: Quyền sử dụng đất diện tích 150m²; thửa đất số 338; tờ bản đồ số 9; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, tọa lạc phường M, thành phố L (nay là phường L, tỉnh An Giang) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS12211 ngày 08/10/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho bà Đỗ Thụy Quế M, ngày 14/6/2022 Văn phòng Đ, chi nhánh L2 cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Huỳnh Nguyên V và bà Lê Thị Kim C tại Trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hợp đồng thế chấp do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 21/6/2022, Văn phòng Đ chi nhánh L2 chứng nhận thế chấp ngày 21/6/2022.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị Kim C chỉ thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 2.099.609.340 đồng, thì không thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận.
Do bà C vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng căn cứ các hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, các văn bản đồng thuận giữa bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V để yêu cầu bà C và ông V liên đới trách nhiệm trả Ngân hàng nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 08/12/2025 là 8.511.520.747 đồng, trong đó dư nợ gốc của 03 khoản vay là 7.292.612.621 đồng (6.423.960.473đ + 216.575.553đ + 652.076.595đ); dư nợ lãi của 03 khoản vay là 1.201.224.302 đồng (1.104.794.146đ + 24.110.202đ + 72.319.954đ); dư nợ lãi quá hạn của 03 khoản vay là 17.683.824 đồng (15.832.537đ + 579.709đ + 1.271.578đ); yêu cầu bà C và ông V tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận kể từ ngày 09/12/2025 đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp bà C và ông V không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 013/LXN/2022/HĐTC ngày 21/6/2022 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án bị đơn ông Huỳnh Nguyên V và bà Lê Thị Kim C mặc dù được niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phiên tòa được mở lại lần thứ hai, ông V và bà C tiếp tục vắng mặt không có lý do.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của đương sự như sau: Thẩm phán chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Thủ tục tống đạt, niêm yết thực hiện đúng quy định tại Điều 171, 175, 177, 179 BLTTDS. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của BLTTSD về việc xét xử vụ án.
Ý kiến về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần H. Buộc bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V có nghĩa vụ liên đới trả Ngân hàng Thương mại cổ phần H tổng số tiền vốn, lãi tạm tính đến ngày 08/12/2025 là 8.511.520.747 đồng và lãi phát sinh kể từ ngày 09/12/2025 đến khi thanh toán xong.
Trường hợp bà C và ông V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ không đầy đủ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiến hành kê biên, phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 013/LXN/2022/HĐTC ngày 21/6/2022.
Bà C, ông V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Ngân hàng Thương mại cổ phần H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang) giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Huỳnh Nguyên V và bà Lê Thị Kim C. Bị đơn không có đăng ký kinh doanh, bị đơn cư trú tại phường L, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 9 - An Giang) thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông V và bà C vắng mặt không có lý do. Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy, Tòa án thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định nên sự vắng mặt của bị đơn không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn và bà C, ông V theo thủ tục chung.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về hợp đồng tín dụng: Ngày 01/6/2022 Ngân hàng và bà C thỏa thuận ký hợp đồng cho vay số: 03989/2022/HĐCV/RB/184519 để vay 7.000.000.000 đồng, mục đích vay mua bất động sản; lãi suất vay áp dụng đến ngày 18/9/2024 là 8.5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Ngày 18/9/2023 Ngân hàng và bà C ký hợp đồng cho vay số: 182407.09513/2023/HĐCV để vay 250.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, mua sắm; lãi suất vay áp dụng đến ngày 18/9/2024 là 8.5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Ngày 02/02/2024 Ngân hàng và bà C ký hợp đồng cho vay số: 201757.04268/2024/HĐCV để vay 740.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, mua sắm; lãi suất vay áp dụng đến ngày 02/02/2025 là 10.5%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn. Ngân hàng đã giải ngân cho bà Lê Thị Kim C đủ số tiền vay nêu trên.
[2.2]. Về hợp đồng thế chấp: Để bảo đảm cho các khoản vay trên, Ngân hàng và bà C, ông V ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 013/LXN/2022/HĐTC ngày 21/6/2022. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 150m²; thửa đất số 338; tờ bản đồ số 9; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, tọa lạc phường M, thành phố L (nay là phường L, tỉnh An Giang) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS12211 ngày 08/10/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho bà Đỗ Thụy Quế M, ngày 14/6/2022 Văn phòng Đ chi nhánh L2 cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Huỳnh Nguyên V và bà Lê Thị Kim C tại Trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hợp đồng thế chấp do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 21/6/2022, Văn phòng Đ chi nhánh L2 chứng nhận thế chấp ngày 21/6/2022.
[3]. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà C chỉ thanh toán cho Ngân hàng được 2.099.609.340 đồng thì ngưng, không thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận. Do bà C vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên Ngân hàng căn cứ các hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, các văn bản đồng thuận giữa bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V để yêu cầu bà C và ông V liên đới trách nhiệm trả Ngân hàng nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 08/12/2025 là 8.511.520.747 đồng, trong đó dư nợ gốc của 03 khoản vay là 7.292.612.621 đồng; dư nợ lãi của 03 khoản vay là 1.201.224.302 đồng; dư nợ lãi quá hạn của 03 khoản vay là 17.683.824 đồng. Yêu cầu bà C và ông V tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận kể từ ngày 09/12/2025 đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp bà C và ông V không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 013/LXN/2022/HĐTC ngày 21/6/2022 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
[4]. Quá trình tố tụng bà C và ông V vắng mặt không có lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Phiên tòa hôm nay, bà C và ông V tiếp tục vắng mặt không có lý do.
[5]. Qua lời trình bày của đại diện theo ủy quyền nguyên đơn và xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy, Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà C và ông V vắng mặt, không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không cung cấp các tài liệu, chứng cứ có liên quan nhằm phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là bà C, ông V đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại khoản 5 Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; Tòa án thực hiện thủ tục Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bà C và ông V biết để bị đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định, nhưng bà C, ông V vẫn không nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ do nguyên đơn cung cấp là hợp đồng cho vay số: 03989/2022/HĐCV/RB/184519 ngày 01/6/2022; hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: 182407.09513/2023/HĐCV ngày 18/9/2023; ký hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: 201757.04268/2024/HĐCV ngày 02/02/2024; giấy nhận nợ; phụ lục giấy nhận nợ; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số cấp GCN: CS12211 ngày 08/10/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho bà Đỗ Thụy Quế M, ngày 14/6/2022 Văn phòng Đ chi nhánh L2 cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Huỳnh Nguyên V và bà Lê Thị Kim C tại Trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các văn bản đồng thuận ngày 01/6/2022, 18/9/2023, 02/02/2024 của bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V về việc vay vốn và cùng trả nợ cho Ngân hàng; bản sao kê tín dụng ngày 08/12/2025; giấy chứng nhận kết hôn giữa ông Huỳnh Nguyên V và bà Lê Thị Kim C; biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/8/2025 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bà C và ông V liên đới trách nhiệm trả Ngân hàng nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 08/12/2025 là 8.511.520.747 đồng, trong đó dư nợ gốc là 7.292.612.621 đồng; dư nợ lãi là 1.201.224.302 đồng; dư nợ lãi quá hạn là 17.683.824 đồng. Yêu cầu bà C và ông V tiếp tục trả lãi phát sinh trên nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận kể từ ngày 09/12/2025 đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Đối với yêu cầu xử lý hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 013/LXN/2022/HĐTC ngày 21/6/2022 giữa Ngân hàng với bà C và ông V để thu hồi nợ. Xét hợp đồng thế chấp trên có công chứng và đăng ký thế chấp đúng quy định về đăng ký thế chấp, do đó Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp của ông V và bà C để đảm bảo thi hành án.
Về việc ông Trang Nguyễn Đức H đang thuê nhà đất của ông V, bà C để kinh doanh (là tài sản ông V, bà C thế chấp cho Ngân hàng), theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/8/2025 ông H trình bày, ông không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến tài sản ông V, bà C thế chấp cho Ngân hàng, nên ông đề nghị Tòa án không đưa ông tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trường hợp ông có tranh chấp hợp đồng thuê nhà với bà C, ông V thì ông khởi kiện vụ kiện khác. Do đó, Tòa án không đưa ông H tham gia tố tụng với tư cách là người liên quan là có căn cứ, đúng quy định.
[6]. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng tạm nộp 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp. Số tiền thực chi 1.200.000 đồng, đã hoàn lại Ngân hàng 800.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông V và bà C phải liên đới hoàn lại Ngân hàng 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
[7]. Về án phí: Ông V và bà C phải liên đới nghĩa vụ chịu 116.512.000đ (Một trăm mười sáu triệu năm trăm mười hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền ông V và bà C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng 8.511.520.747 đồng.
Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 6; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 2; Điều 6; Điều 7; Điều 7a; Điều 9 và Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (Được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần H đối với bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V.
Buộc bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần H nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 08/12/2025 là 8.511.520.747đ (Tám tỷ năm trăm mười một triệu năm trăm hai mươi nghìn bảy trăm bốn mươi bảy đồng). Trong đó, nợ gốc 7.292.612.621 đồng; nợ lãi 1.201.224.302 đồng; nợ lãi quá hạn 17.683.824 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 08/12/2025) bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay, hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V không thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần H có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 013/LXN/2022/HĐTC ngày 21/6/2022. Tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 150m²; thửa đất số 338; tờ bản đồ số 9; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị, tọa lạc phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường L, tỉnh An Giang) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS12211 ngày 08/10/2018 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp cho bà Đỗ Thụy Quế M, ngày 14/6/2022 Văn phòng Đ, chi nhánh L2 cập nhật chỉnh lý biến động chuyển nhượng cho ông Huỳnh Nguyên V và bà Lê Thị Kim C tại Trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản bảo đảm vẫn không đủ để Ngân hàng Thương mại cổ phần H thu hồi nợ thì bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V có nghĩa vụ hoàn lại Ngân hàng Thương mại cổ phần H Ngân hàng 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Về án phí: Bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V phải liên đới nghĩa vụ chịu 116.512.000đ (Một trăm mười sáu triệu năm trăm mười hai nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại cổ phần H được nhận lại 58.029.000đ (Năm mươi tám triệu không trăm hai mươi chín nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003153, ngày 25/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 - Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).
Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần H có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi gởi:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Hoa |
Bản án số 205/2025/DS-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 205/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Buộc bà Lê Thị Kim C và ông Huỳnh Nguyên V có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng TMCP HH VN nợ gốc và lãi tính đến hết ngày 08/12/2025 là 8.511.520.747 đồng.
