TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HS-ST Ngày 10-12-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Văn Lâm.
2. Ông Lò Việt Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thế – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST - HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Văn T, sinh ngày 10/2/1985 tại xã P, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: Bản T, xã P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn T1 (đã chết) và bà: Lò Thị Ạ, sinh năm 1962; Vợ: Vàng Thị S, sinh năm 1986; Con: bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, Tiền sự: Không.
- Nhân thân: Nông Văn T có 02 tiền án đã được xoá án tích. Cụ thể: Tại bản án số 22/2004/HSST ngày 08/6/2004 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt Nông Văn T 28 tháng tù về tội “Mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tại bản án số 23/2021/HS-ST ngày 08/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt Nông Văn T 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nông Văn T đã thi hành xong án phí và chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2022.
- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 05/8/2025, tạm giam từ ngày 07/8/2025 đến nay, bị cáo có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Vàng Thị S, sinh năm 1986. Trú tại: Bản T, xã P, tỉnh Lai Châu (có mặt)
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 05/8/2025, Nông Văn T điều khiển xe mô tô đi từ nhà đến khu vực bản P, xã P, tỉnh Lai Châu, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại địa phận bản Pắc Ta, Nông Văn T gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, qua nói chuyện, T mua được của người đàn ông này 02 gói Heroine (trong đó, có 01 gói được gói bằng 02 mảnh giấy màu vàng trắng; 01 gói được gói chung với 01 viên Methamphetamine bằng 01 mảnh nilon màu trắng) với giá 300.000 đồng. Mua được H và M, T cầm trong lòng bàn tay trái điều khiển xe mô tô quay về. Hồi 22 giờ cùng ngày, khi T về đến đoạn đường nội đồng thuộc khu vực bản T, xã P thì bị Công an xã P phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay trái của Nông Văn T là 02 gói Heroine, trong đó có 01 gói được gói chung cùng 01 viên Methamphetamine. Tổng khối lượng chất ma tuý thu giữ của Nông Văn T là 0,99 gam Heroine và 0,08 gam Methamphetamine, mục đích T khai đều để sử dụng. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe RSX FI, màu sơn đen trắng, biển kiểm soát 25B1-719.16.
Bản kết luận giám định số 656/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Nông Văn T có tổng khối lượng 0,99 gam là ma túy, loại: Heroine; 01 viên nén màu hồng thu giữ của Nông Văn T có tổng khối lượng 0,08 gam là ma túy, loại : Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-TU, ngày 24/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu để xét xử Nông Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù, miễn hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 0,52 gam Heroine; 02 mảnh giấy màu vàng trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe RSX FI, màu sơn đen trắng, biển kiểm soát 25B1-719.16
2
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Vàng Thị S trình bày chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại WAVE màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 21G1-154.57 là tài sản riêng của chị S, việc bị cáo T tự ý sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội thì chị S không biết, chị S có nguyện vọng được xin lại chiếc xe mô tô trên để phục vụ cho việc đi lại trong gia đình.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 20 giờ ngày 05/8/2025, tại bản T, xã P, tỉnh Lai Châu, Nông Văn T, đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,99 gam Heroine và 0,08 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã P, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Về tổng khối lượng của 02 chất ma túy là H và Methamphetamine thu giữ của Nông Văn T: Căn cứ Điều 4, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định về tính tổng khối lượng ma túy xác định: tổng khối lượng hai chất ma túy là H1 và Methamphetamine thu giữ của Nông Văn T là: 0,99 gam Heroine + 0,08 gam Methamphetamine = 1,07 gam. Như vậy hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt quy định tại
3
điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nông Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Toà án xét xử 02 lần về các tội liên quan đến ma tuý nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do vậy quá trình lượng hình, hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Do vậy quan điểm đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- - 0,99 gam Heroine và 0,08 gam Methamphetamine thu giữ của Nông Văn T, cơ quan điều tra đã trích 0,47 gam Heroine cùng toàn bộ 0,08 gam Methamphetamine gửi giám định không hoàn lại mẫu vật, còn lại 0,52 gam Heroine là chất Nhà nước cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 02 mảnh giấy màu vàng trắng; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với chiếc xe mô tô 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe RSX FI, màu sơn đen trắng, biển kiểm soát 25B1-719.16, nguồn gốc chiếc xe trên được chị Vàng Thị S mua trong thời kỳ hôn nhân với bị cáo T, số tiền mua xe do hai vợ chồng cùng tích góp để mua, do vậy Hội đồng xét xử xác định chiếc xe là tài sản chung của chị Vàng Thị S và bị cáo Nông Văn T. Việc bị cáo T sử dụng
4
chiếc xe mô tô trên và sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội thì chị S không biết, tuy nhiên chiếc xe là phương tiện bị cáo T dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu hoá giá sung quỹ Nhà nước, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của chị Vàng Thị S về việc trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Vàng Thị S.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
- - Về nguồn gốc H1 và M, Nông Văn T khai mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch. Quá trình điều tra, không xác định được người này nên không có căn cứ để xử lý.
- - Quá trình điều tra lấy lời khai và test ma tuý, Nông Văn T khai có sử dụng chất ma tuý và dương tính đối với chất ma túy. Tuy nhiên qua xác minh Nông Văn T không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với Nông Văn T về tội sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
- - Đối với Vàng Thị S vợ bị can Nông Văn T là chủ sở hữu chiếc xe mô tô do T điều khiển đi mua Heroine. Quá trình điều tra xác định Nông Văn T dùng xe đi mua Heroine thì Vàng Thị S không biết, vì vậy cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Vàng Thị S là đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nông Văn T 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2025.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong bên trong đựng 0,52 gam Heroin, 02 mảnh giấy màu vàng trắng, 01 mảnh nilon màu trắng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) xe mô tô loại xe hai bánh từ 50 - 175cm³, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX FI, màu sơn đen trắng, biển kiểm
soát 25B1-719.16; số khung RLHJA3813KY036933, số máy JA38E0519028, dung tích xilanh 109,1 cm³, năm sản xuất 2019. Xe cũ, đã qua sử dụng, thân vỏ xe có nhiều vết trầy xước, không kiểm tra chất lượng bên trong.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 15 phút, ngày 08/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Lai Châu).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
6
7
Bản án số 20/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 20/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS
