|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 20/2025/HNGĐ-PT
Ngày 30/9/2025
“Về việc ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Dương Mạnh Chiến
Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Quyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Hội trường xét xử số 4 - Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm thụ lý số: 13/2025/TLPT-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2025 về việc: “Ly hôn”. Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 05/2025/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2025/QĐHNGĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/QĐHNGĐ-PT ngày 24/9/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Chu Xuân N, sinh năm 1989; CCCD [...]; nơi thường trú: Số nhà E, tổ I, khu B, phường H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Bị đơn: chị Khiếu Mai H, sinh năm 1995; CCCD [...]; nơi thường trú: Tổ A, khu D, phường H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Người kháng cáo: nguyên đơn anh Chu Xuân N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Chu Xuân N trình bày: anh N và chị Khiếu Mai H đăng ký kết hôn với nhau ngày 07/02/2024 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 4 tháng; sau khi kết hôn, anh N và chị H chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, hay xung khắc trong giao tiếp, cách sống; kể từ khi xảy ra mâu thuẫn, chị H đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó đến nay, vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến đời sống tình cảm của nhau nữa. Anh N xét thấy tình cảm giữa anh N và chị H không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nên anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh N được ly hôn với chị H.
Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: không có, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn chị Khiếu Mai H, đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Tại văn bản trình bày ý kiến của chị H, thể hiện nội dung: tháng 11/2023, chị H và anh N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại địa chỉ tổ I, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vài tháng đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên anh Nhất là người không có ý thức muốn cân bằng mỗi quan hệ giữa vợ và bố mẹ chồng. Cứ mặc kệ vợ tự giải quyết các vấn đề với mẹ chồng, mặc dù vợ chồng ở riêng (nhà sát cạnh bố mẹ chồng) nhưng ăn chung, bố mẹ chồng thường xuyên can thiệp chuyện vợ chồng, từ việc ăn, ngủ, giặt giũ... Khi chị H mang thai, thể trạng yếu, mẹ chồng vẫn yêu cầu chị H mang vác vật nặng, kể những câu chuyện về các mối quan hệ tình cảm của anh N. Mặc dù H nhiều lần trao đổi góp ý với anh N cũng như tự bỏ tiền chi tiêu và vẫn làm việc nhà (song song với việc đi làm, làm thêm 8-10 tiếng/ngày). Nhưng anh N không công nhận sự cố gắng vun vén hôn nhân của chị H dẫn đến chị H bị áp lực về tinh thần, căng thẳng thần kinh. Ngay sau đó chị H bị chẩn đoán phải lọc ối và đình chỉ thai. Từ đó anh N ngừng hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh, cáu gắt với vợ dù trước hôn nhân chị H đã trao đổi rõ về tình trạng sức khoẻ của bản thân và anh N hoàn toàn đồng ý kết hôn. Chị H nhiều lần vô tình thấy được anh N trao đổi tin nhắn nội dung những hình ảnh hở hang, khêu gợi với một nhóm phụ nữ dù vợ con đang ở tình trạng bệnh tật. Sau quá trình nằm viện đình chỉ thai tại Bệnh viện P khoảng thời gian từ ngày 02/4- 11/4/2024, chị H trở về nhà chồng và mẹ chồng yêu cầu vợ chồng ngủ riêng khiến mối quan hệ vợ chồng càng căng thẳng; kể từ đó chị H luôn phải uống thuốc ngủ mỗi ngày. Trong 01 tháng chị H phải nghỉ làm ở cữ, anh N không động viên cũng không đưa chị H đi tái khám. Khi chị H đề xuất mong muốn cùng chồng điều trị bệnh theo hướng dẫn của bác sĩ có chuyên môn để có thai lại thì anh N luôn gạt đi, không tôn trọng lắng nghe dù mong muốn có con là quyền lợi hợp pháp của chị H. Bên cạnh đó, mẹ chồng không muốn tốn tiền chữa bệnh, thường chê bai dè bỉu khiến chị H càng căng thẳng về thần kinh nên đến ngày 18/10/2024, chị H đã xin phép mẹ chồng về nhà ngoại ở để có thời gian tĩnh dưỡng và được bố mẹ đẻ chăm sóc, nhưng anh N lại cho rằng không tôn trọng anh N. Quá trình này, chị H nhiều lần trao đổi với anh N (có tin nhắn ghi âm làm chứng) về việc vợ chồng ở riêng hẳn để hàn gắn hoặc anh N đưa ra phương án phù hợp nhưng anh N không đồng ý và không có động thái hàn gắn quan hệ vợ chồng. Đến tháng 02/2025, sau khi nhận được hồ sơ khởi kiện xin ly hôn do anh N gửi chị H bị sock tâm lý vì những lời bịa đặt, xúc phạm danh dự chị H trong đơn và do bị trầm cảm nặng nên chị H đã uống thuốc ngủ tự tử và được người nhà phát hiện kịp thời nhưng đến nay tinh thần chị H chưa ổn phải điều trị tại Bệnh viện tỉnh Q, vẫn đang điều trị bệnh lý trầm cảm và vẫn muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng nên chị H không đồng ý ly hôn.
Về con chung, về tài sản chung và công nợ chung: không có, chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ:
- - Ngày 24/3/2025, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã tiến hành xác minh tại tổ dân khu phố nơi anh N và chị H chung sống, ông Nguyễn Hữu H1 - Khu T, phường H cho biết: anh Chu Xuân N và chị Khiếu Mai H có đăng ký kết hôn và tổ chức đám cưới tại UBND phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có chung sống với nhau tại tổ I, khu B, phường H từ đầu năm 2024. Đến cuối năm 2024, thì chị H rời khỏi nhà chồng để đi sinh sống tại nơi khác, chị H đi đâu làm gì thì khu phố không biết do anh N, chị H không khai báo tại địa phương. Trong thời gian anh N và chị H chung sống tại địa phương, khu phố không thấy có biểu hiện mâu thuẫn gì, khu phố cũng không biết vì sao chị H chuyển đi nơi khác sinh sống.
- - Ngày 14/5/2025, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long đã tiến hành xác minh tại nhà mẹ đẻ chị Khiếu Mai H, địa chỉ: tổ A, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bà Hoàng Thị H2 là mẹ đẻ của chị H cho biết: anh N và chị H kết hôn tháng 02/2024, chung sống với nhau tại tổ I, khu B, phường H. Đến ngày 22/10/2024, thì chị H về nhà mẹ đẻ ở từ đó đến nay. Khi chị H về nhà, bà H2 có tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh N với chị H và tìm mọi cách khuyên giải, động viên, hàn gắn tình cảm cho anh N và chị H nhưng không có kết quả. Hiện nay chị H đi làm giờ hành chính, nên không trực tiếp nhận các văn bản của Tòa giao, mà do bà H2 và ông Khiếu Đăng B (là bố đẻ của chị H) nhận thay và giao tận tay cho chị H khi chị H đi làm về.
Với nội dung trên, Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 05/2025/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn anh Chu Xuân N đối với bị đơn chị Khiếu Mai H.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, về quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Ngày 24/7/2025, nguyên đơn anh Chu Xuân N kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho anh N được ly hôn với chị Khiếu Mai H. Lý do: bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh N đối với chị H là không có căn cứ, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh N.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn anh Chu Xuân N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
- - Do bị đơn chị Khiếu Mai H vắng mặt tại phiên tòa nên không thực hiện được thủ tục hòa giải tại phiên tòa phúc thẩm.
- - Nguyên đơn anh Chu Xuân N trình bày nội dung kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo: anh N và chị H tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau từ tháng 11/2023, đến tháng 02/2024 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn. Chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ tháng 10/2024 đến nay (trong quá trình còn chung sống với nhau, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ nhiều lần). Tại Văn bản trình bày ý kiến đề ngày 26/3/2025, chị H trình bày là anh N và gia đình anh N đối xử không tốt với chị H là không đúng, là bịa đặt. Nếu anh N và gia đình đối xử với chị H như thế tại sao chị H vẫn không đồng ý ly hôn với anh N. Khi anh N gửi đơn khởi kiện xin ly hôn cho chị H, chị H có uống thuốc ngủ, gia đình chị H có đưa đi bệnh viện nhưng việc này không phải là lần đầu; hiện nay chị H vẫn đi làm bình thường, không hề đi chữa bệnh, không đồng ý ly hôn nhưng Tòa án triệu tập đến làm việc thì đều vắng mặt không có lý do, không tôn trọng Tòa án. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định do chị H chưa muốn ly hôn tức là mâu thuẫn chưa trầm trọng vẫn hàn gắn được là nhận định chủ quan, phiến diện. Anh N đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của anh N, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh N đối với chị H, để anh N ổn định cuộc sống.
- - Nguyên đơn anh Chu Xuân N và Kiểm sát viên, đều không xuất trình bổ sung tài liệu, chứng cứ.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn anh Chu Xuân N thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chị Khiếu Mai H không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong giai đoạn sơ thẩm; tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và kết quả làm rõ tại phiên toà hôm nay, đủ căn cứ chấp nhận kháng cáo nguyên đơn anh Chu Xuân N. Đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 05/2025/HNGĐ-ST ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh, theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn anh Chu Xuân N.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của nguyên đơn anh Chu Xuân N làm trong hạn luật định và đúng trình tự thủ tục mà Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,...số: 85/2025/QH15 quy định, nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: ngày 25/9/2025, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành làm việc với bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1957; nơi thường trú: tổ A, khu D, phường H, tỉnh Quảng Ninh để xác định sự có mặt của bị đơn chị Khiếu Mai H tại nơi cư trú.
Bị đơn chị Khiếu Mai H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự,...số: 85/2025/QH15, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung kháng cáo của nguyên đơn anh Chu Xuân N, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Anh N và chị H đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2024, tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh (nay là phường H, tỉnh Quảng Ninh), trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2024, thì chị H về nhà bố mẹ đẻ ở.
Về tình trạng hôn nhân giữa anh N và chị H như trình bày nêu trên, về nguyên nhân mâu thuẫn là không có sự thống nhất, có căn cứ xác định: anh N và chị H đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay, anh N không có mong muốn khắc phục mâu thuẫn.
Theo chị H trình bày: anh Nhất là người không có ý thức muốn cân bằng mỗi quan hệ giữa vợ và bố mẹ chồng; khi chị H mang thai, thể trạng yếu ... tự bỏ tiền chi tiêu và vẫn làm việc nhà nhưng anh N không công nhận sự cố gắng vun vén hôn nhân của chị H dẫn đến chị H bị áp lực về tinh thần, căng thẳng thần kinh, sau đó bị chẩn đoán phải lọc ối và đình chỉ thai,...Sau quá trình nằm viện đình chỉ thai tại Bệnh viện P khoảng thời gian từ ngày 02/4-11/4/2024, chị H trở về nhà chồng và mẹ chồng yêu cầu vợ chồng ngủ riêng khiến mối quan hệ vợ chồng càng căng thẳng, nên chị H luôn phải uống thuốc ngủ mỗi ngày; anh N không động viên cũng không đưa chị H đi tái khám, anh N không muốn cùng chị H điều trị bệnh theo hướng dẫn của bác sĩ có chuyên môn để có thai lại,... từ ngày 18/10/2024, chị H đã xin phép mẹ chồng về nhà ngoại ở để có thời gian tĩnh dưỡng và được bố mẹ đẻ chăm sóc,... Trong thời gian về nhà ngoại ở, chị H nhiều lần trao đổi với anh N về việc vợ chồng ở riêng hẳn để hàn gắn hoặc anh N đưa ra phương án phù hợp nhưng anh N không đồng ý và không có động thái hàn gắn quan hệ vợ chồng. Khi chị H nhận được hồ sơ khởi kiện xin ly hôn do anh N gửi chị H bị sock tâm lý do bị trầm cảm nặng nên chị H đã uống thuốc ngủ tự tử và được người nhà phát hiện kịp thời nhưng đến nay tinh thần chị H chưa ổn phải điều trị tại Bệnh viện tỉnh Q, vẫn đang điều trị bệnh lý trầm cảm và vẫn muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng nên chị H không đồng ý ly hôn.
Bản thân chị H trình bày: đã uống thuốc ngủ tự tử và được người nhà phát hiện kịp thời nhưng đến nay tinh thần chị H chưa ổn phải điều trị tại Bệnh viện tỉnh Q, vẫn đang điều trị bệnh lý trầm cảm và vẫn muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng nhưng trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh N đối với chị H, chị H đều vắng mặt không có lý do (chỉ có đơn xin hoãn phiên tòa 01 lần); tại hồ sơ chỉ có giấy ra viện khi chị H điều trị đình chỉ thai. Bị đơn chị H không cung cấp, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ chị H điều trị do tự tử; vẫn đang điều trị bệnh lý trầm cảm và chứng cứ chứng minh chị H có mong muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với anh N.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định: “...Tuy nhiên chị H không muốn ly hôn với anh N, chứng tỏ chị vẫn muốn hai vợ chồng được đoàn tụ; mặt khác hiện nay sức khỏe chị H rất yếu do mới phải đình chỉ thai nghén và hiện đang điều trị trầm cảm nên rất cần sự chăm sóc và chia sẻ của anh N trong thời gian này. Do đó thấy rằng mâu thuẫn giữa anh N và chị H chưa đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân vẫn có thể hàn gắn được, vì vậy không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh N mà để vợ chồng anh chị có cơ hội hàn gắn, đoàn thụ, xây dựng gia đình hạnh phúc ...”.
Tại cấp phúc thẩm, bị đơn chị H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại Biên bản làm việc ngày 25/9/2025, bà Hoàng Thị H2 là mẹ đẻ của bị đơn chị Khiếu Mai H, cung cấp thông tin: bà H2 đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giao cho chị H và đã thông báo cho chị H biết. Chị H hiện nay sức khỏe vẫn chưa ổn định nhưng vẫn đi làm bình thường, gia đình đã động viên để chị H đi khám bệnh nhưng chị H không hợp tác. Đối với việc anh N kháng cáo xin ly hôn, chị H đã nói với bà H2 là không muốn quan tâm đến nữa mà muốn tập trung cho công việc, sức khỏe. Để đảm bảo cho sức khỏe của chị H được ổn định, gia đình bà H2 đã động viên, khuyên giải và cũng mong muốn vụ án được sớm kết thúc, giải quyết cho anh N và chị H được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống. Bà H2 cam đoan thông báo cho chị H biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh yêu cầu chị H cung cấp chứng cứ về việc chị H phải điều trị do tự tử và vẫn đang điều trị bệnh lý trầm cảm tại phiên tòa phúc thẩm ngày 30/9/2025.
Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án không nhận được chứng cứ về việc chị H phải điều trị do tự tử và vẫn đang điều trị bệnh lý trầm cảm; theo trình bày của bà Hoàng Thị H2 là mẹ đẻ của bị đơn chị Khiếu Mai H tại Biên bản làm việc ngày 25/9/2025 như nêu trên. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Chu Xuân N, sửa bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh N đối với chị H.
[2.2] Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: không có, anh N và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của anh Chu Xuân N nên anh N không phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm; anh N phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.
[4] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anh Chu Xuân N, sửa Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm sơ thẩm số: 05/2025/HNGĐ-ST ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Quảng Ninh, như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 148; khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự số: 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025. Khoản 1 Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chu Xuân N.
- [1] Về quan hệ hôn nhân: anh Chu Xuân N được ly hôn với chị Khiếu Mai H.
- [2] Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: không có, anh Chu Xuân N và chị Khiếu Mai H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- [3] Về án phí: anh Chu Xuân N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001689 ngày 17/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Quảng Ninh); trả lại cho anh N số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000518 ngày 11/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
- [4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 20/2025/HNGĐ-PT ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn
- Số bản án: 20/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nh N và chị Khiếu Mai H đăng ký kết hôn với nhau ngày 07/02/2024 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 4 tháng; sau khi kết hôn, anh N và chị H chung sống hạnh phúc đến tháng 10/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, hay xung khắc trong giao tiếp, cách sống; kể từ khi xảy ra mâu thuẫn, chị H đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đó đến nay, vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm đến đời sống tình cảm của nhau nữa. Anh N xét thấy tình cảm giữa anh N và chị H không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nên anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh N được ly hôn với chị H. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: không có, anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
