|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 197/2025/HS-ST Ngày: 12/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh và ông Nguyễn Văn Thông
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Long - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa công khai ngày 12 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu Vực 6, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 164/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2025/QĐXXST- HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Mai Văn L, sinh năm 1994. Giới tính N. CCCD số: [...]. Hộ khẩu thường trú: Xóm C, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở khi bị bắt: Ngõ A, đường V, phường X, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Mai Văn B và bà Nghiêm Thị T. Có vợ Phạm Thúy H và 01 con sinh năm 2020.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 32/2023/HSST ngày 23/02/2023 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4), thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2024 (Chưa được xóa án tích).
Nhân thân:
- - Bản án số 405/2013/HSST ngày 06/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4), thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 tháng, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- - Bản án số 169/2015/HSST ngày 18/9/2015 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 6), thành phố Hà Nội xử phạt 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong bản án từ ngày 01/02/2019.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
- Lâm Văn B1, sinh năm 1991; Giới tính N. CCCD số: [...]. Hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã Y, tỉnh Phú Thọ. Nơi ở khi bị bắt: Ngõ A, đường T, xã Đ, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Cao Lan. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Lâm Văn T1 và bà Hoàng Thị S (đều đã chết). Có vợ là Nguyễn Thị T2. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2002. Nơi thường trú: Khu B, xã B, tỉnh Quảng Ninh. Nơi ở hiện nay: C, KĐT G, phường D, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Anh Đinh Tiên H1, sinh năm 2002. Nơi thường trú: thôn G, xã H, thành phố Hà Nội. Nơi ở hiện nay: Số E, ngách B, ngõ B N, phường T, Hà Nội. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thúy H, sinh năm 1996; Nơi thường trú: Xóm C, N, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985; Nơi thường trú: Thôn V, xã P, Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Văn L và Lâm Văn B1 quen biết nhau từ khoảng đầu tháng 6/2025, do không có việc làm ổn định nên rủ nhau đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền chia nhau để chi tiêu cá nhân. Ngày 07/8/2025, L và B1 đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/8/2025, Bộ điều khiển xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave màu trắng biển kiểm soát 88AM-001.50 chở L đi đến số nhà L (R, phường H, thành phố Hà Nội), thì thấy 01 xe máy (nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xám biển kiểm soát 29AC-060.36) để ở vỉa hè không có người trông giữ. Bộ dừng xe gần đó để cảnh giới, còn Lưu T3 đến dùng đoạn dây thép đem theo đấu điện nổ máy và điều khiển xe chạy thoát, vứt bỏ đoạn dây thép dùng đấu điện trên đường đi. Khi mở cốp xe, Lưu thấy có giấy đăng ký xe mang tên Đinh Tiên H1. L lên mạng xã hội Facebook rao bán xe và thống nhất với một tài khoản Facebook không quen biết, hẹn gặp nhau ở khu vực M để giao dịch. Khi B1 và L mang xe trộm được đến khu vực M thì gặp 01 nam giới đeo khẩu trang đứng chờ ở vỉa hè. L đi đến nói là xe mua lại, do dùng một thời gian bị hỏng ổ khóa nên đấu điện đi tạm và muốn bán để mua xe khác. Thanh niên này đồng ý mua chiếc xe Honda Wave Alpha biển kiểm soát 29AC-060.36 với giá 6.000.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt. L và Bộ chia nhau mỗi người 3.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 07/08/2025, Bộ tiếp tục điều khiển xe máy Hon-da Wave màu trắng biển kiểm soát 88AM-001.50 chở L đến trước số nhà C (Khu đô thị G, phường D, thành phố Hà Nội), thì phát hiện 01 xe máy (nhãn hiệu Hon-da Future Fil25 màu xanh-đen biển kiểm soát 14AP-019.08) để ở vỉa hè không có người trông giữ. Bộ dừng xe dưới lòng đường cảnh giới, L đến vị trí chiếc máy thì thấy chùm chìa khoá và chíp từ của xe vẫn cắm ở ổ khoá nên mở khóa nổ máy rồi điều khiển xe chạy thoát. Mở cốp xe thấy có đăng ký xe mang tên Nguyễn Thành Đ và một số giấy tờ cá nhân khác, L tiếp tục vào mạng xã hội Facebook rao bán xe và trao đổi với một tài khoản Facebook không quen biết, hẹn gặp nhau giao dịch ở khu vực cầu V, xã V, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi hẹn, Lưu trực T4 gặp một đối tượng nam giới đeo khẩu trang, nói dối là chiếc xe máy do L mua lại nhưng muốn bán đi để mua xe khác. Đối tượng mua xe không hỏi gì thêm và đồng ý mua mua chiếc xe Hon-da Future Fi125 màu xanh-đen biển kiểm soát 14AP-019.08 với giá 9.500.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt. L chia cho Bộ 4.800.000 đồng, còn Lưu giữ lại 4.700.000 đồng.
Sau khi bị mất tài sản, chủ sở hữu xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xám biển kiểm soát 29AC-060.36 là anh Đinh Tiên H1 (Sinh năm 2002; trú tại thôn G, xã H, thành phố Hà Nội) và chủ sở hữu chiếc xe máy nhãn hiệu Hon-da Future Fil25 màu xanh-đen biển kiểm soát 14AP-019.08 là anh Nguyễn Thành Đ (sinh năm 2002, Khu B, xã B, tỉnh Quảng Ninh) đã đến cơ quan công an trình báo sự việc.
Ngày 09/8/2025, Mai Văn L và Lâm Văn B1 lần lượt đến xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Vật chứng vụ án:
- - Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan, gồm:
- + T5 do Mai Văn L giao nộp: 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nhựa màu đen; 01 áo chống nắng màu xám; 01 đôi giầy thể thao màu đen, đế màu trắng; 01 chiếc găng tay màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, số IMEI 351212584501320, lắp sim số 0395166256 (đều đã qua sử dụng).
- + T5 do Lâm Văn B1 giao nộp: 01 xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave màu trắng biển kiểm soát 88AM-001.50, số khung RLHJA3935SY435343, số máy JA70E0893627 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh-đen, số IMEI1: 351572599867317, IMEI2: 351572599557173, lắp sim số 0869660067 (đều đã qua sử dụng).
- - 02 chiếc xe máy các đối tượng chiếm đoạt và đã đem tiêu thụ nên không thu giữ được.
Tại các Kết luận định giá tài sản số 790/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2025 và số 1231/KL-HĐĐGTS ngày 05/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hà Nội kết luận:
“... Chiếc xe máy nhãn hiệu Hon-da Future Fi125 biển kiểm soát 14AP-019.08 (đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá ngày 07/8/2025 trị giá 27.858.600 đồng”.
“... Chiếc xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave Alpha biển kiểm soát 29AC-060.36 (Đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá ngày 07/8/2025 trị giá 18.966.600 đồng”.
Tại Kết luận giám định số 68871/KL-KTHS ngày 10/10/2025 Phòng K Công an thành phố H kết luận:
“...Xe mô tô nhãn hiệu Hon-da Wave đeo biển kiểm soát 88AM - 001.50, có số khung RLHJA3935SY435343, số máy JA70E-0893627 là số nguyên thủy".
Kết quả xác minh chiếc xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave màu trắng biển kiểm soát 88AM-001.50 là tài sản do Lâm Văn B1 đứng tên đăng ký sở hữu.
Về đối tượng mua xe máy do các bị cáo trộm cắp: L và B1 khai việc giao dịch qua mạng xã hội Facebook, không có sự quen biết và đã xóa lịch sử liên lạc; khi gặp người mua đều đeo khẩu trang nên các bị cáo không nhận dạng được. Cơ quan điều tra đã Quyết định truy tìm nhưng không có kết quả. Ngoài lời khai của L và Bộ, không có tài liệu nào khác chứng minh nên không có cơ sở để xác minh, làm rõ.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình Mai Văn L và Lâm Văn B1 đã bồi thường cho anh Đinh Tiên H1 số tiền 15.000.000 đồng, anh Nguyễn Thành Đ số tiền 20.000.000 đồng. Anh Đ, anh H1 không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Cáo trạng số 79/CT - VKS - HS ngày 10/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội truy tố Mai Văn L và Lâm Văn B1 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng truy tố, không kêu oan.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị T2, chị H không yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền đã trả cho người bị hại thay phần trách nhiệm của các bị cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Mai Văn L từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lâm Văn B1 từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND nơi thường trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
- - Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận tài sản nay không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị T2, chị H không yêu cầu các bị cáo hoàn trả số tiền đã trả cho người bị hại thay phần trách nhiệm của các bị cáo nên không xem xét.
- - Về xử lý vật chứng: Áo, mũ, găng tay...là đồ dùng cá nhân đã cũ các bị cáo đã sử dụng khi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; Điện thoại, xe máy mô tô nhãn hiệu Hon-da Wave đeo biển kiểm soát 88AM - 001.50 các bị cáo đã sử dụng trong quá trình phạm tội đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Các bị cáo xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 30 phút đến 12 giờ 40 phút ngày 07/8/2025, lợi dụng sơ hở của các chủ sở hữu, Mai Văn L và Lâm Văn B1 đã 02 lần cùng nhau thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 chiếc xe máy, với tổng cộng trị giá 46.825.200 đồng. Trong đó, tại khu vực vỉa hè trước số nhà L- 07 Roman Plaza, (phường H, thành phố Hà Nội), chiếm đoạt của anh Đinh Tiên H1 01 xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave Alpha màu xám biển kiểm soát 29AC-060.36, trị giá 18.966.600 đồng; tại khu vực vỉa hè trước số nhà C, Khu đô thị G, (phường D, thành phố Hà Nội), chiếm đoạt của anh Nguyễn Thành Đ 01 xe máy nhãn hiệu Hon-da Future Fi125 màu xanh-đen biển kiểm soát 14AP-019.08, trị giá 27.858.600 đồng. L và Bộ đã đem bán cho các đối tượng không quen biết được số tiền 15.500.000 đồng chia nhau sử dụng chi tiêu cá nhân. Sau khi phạm tội, L và B1 đã đầu thú, gia đình các bị cáo đã bồi thường trả anh Đinh Tiên H1 15.000.000 đồng, anh Nguyễn Thành Đ 20.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hà Nội đã truy tố.
[3]. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Vụ án có tính chất giản đơn, các bị cáo đều tham gia thực hành tội phạm. Hành vi của các bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân; gây mất trật tự trị an trong khu vực nên cần thiết phải xử lý và có hình phạt phù hợp mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:
Các bị cáo thực hiện liên tiếp nhiều hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo Mai Văn L là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chủ động liên hệ bán tài sản trộm được, giữ vai trò tích cực trong quá trình các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo Lâm Văn B1. Bị cáo Mai Văn L đã nhiều lần bị xét xử về hành vi phạm tội, trong đó có bản án chưa được xóa án nên còn phải chịu thêm tình tiết “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và cần áp dụng hình phạt cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian đối với bị cáo.
Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo; gia đình các bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên các bị cáo được xem xét giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Lâm Văn B1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự nên có thể cho bị cáo áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, tạo cơ hội cho bị cáo tu dưỡng rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Lâm Văn B1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự vì vậy có thể cho bị cáo hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục bị cáo để bị cáo sửa chữa những sai lầm của mình có cơ hội trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Mai Văn L đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2025, nên thời gian tạm giữ, tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Chị Nguyễn Thị T2 (vợ bị cáo Lâm Văn B1), chị Phạm Thúy H (vợ bị cáo Mai Văn L) trình bày quá trình điều tra mỗi chị đã tự nguyện nộp 17.500.000 đồng (mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng) lấy từ khoản tiền chung của vợ chồng để bồi thường cho người bị hại là anh Nguyễn Thành Đ 20.000.000 đồng, anh Đinh Tiên H1 15.000.000 đồng. Đến nay các chị không có ý kiến gì khác nên cần ghi ghi nhận.
Anh Nguyễn Thành Đ đã nhận bồi thường 20.000.000 đồng, anh Đinh Tiên H1 đã nhận bồi thường 15.000.000 đồng nay không có yêu cầu gì khác; các bị cáo nhất trí nên cần ghi nhận.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave màu trắng biển kiểm soát 88AM-001.50, số khung RLHJA3935SY435343, số máy JA70E0893627; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh-đen, số IMEI1: 351572599867317, IMEI2: 351572599557173, lắp sim số 0869660067 (đều đã qua sử dụng) thu giữ của Lâm Văn B1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, số IMEI 351212584501320, lắp sim số 0395166256 thu giữ của Mai Văn L là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen; 01 áo chống nắng màu xám; 01 đôi giày thể thao màu đen, đế màu trắng; 01 chiếc găng tay bằng vải màu xanh thu giữ của Mai Văn L sử dụng khi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Văn L và Lâm Văn B1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt và điều luật áp dụng:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Mai Văn L 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ Luật Tố tụng Hình sự, xử phạt: Lâm Văn B1 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/12/2025. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Mai Văn L cùng vợ là chị Phạm Thúy H nộp số tiền 17.500.000 đồng; bị cáo Lâm Văn B1 cùng vợ là chị Nguyễn Thị T2 nộp số tiền 17.500.000 đồng để bồi thường trả anh Nguyễn Thành Đ số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), bồi thường trả anh Đinh Tiên H1 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Đã bồi thường đủ.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- - 01 xe máy nhãn hiệu Hon-da Wave màu trắng biển kiểm soát 88AM-001.50, số khung RLHJA3935SY435343, số máy JA70E0893627; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh-đen, số IMEI1: 351572599867317, IMEI2: 351572599557173, lắp sim số 0869660067 (đều đã qua sử dụng) thu giữ của Lâm Văn B1;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu đen, số IMEI 351212584501320, lắp sim số 0395166256 thu giữ của Mai Văn L
- Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu đen; 01 áo chống nắng màu xám; 01 đôi giày thể thao màu đen, đế màu trắng; 01 chiếc găng tay bằng vải màu xanh thu giữ của Mai Văn L.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an Thành phố H và Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Hà Nội ngày 11/11/2025).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hòa |
Bản án số 197/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 197/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 12.25 BA Mai Văn L + Đp (173-Hoa)
