Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày 11-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Chiên và ông Vân Văn Kiều.

  • Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Tiến Tùng - Thư ký Tòa án.

  • Thư ký tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Phong T - Trại tạm giam Công an tỉnh L: Ông Chảo Hò S – Thẩm tra viên.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Lò Xuân Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến tại 03 điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lai Châu, các điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam Phong T - Trại tạm giam Công an tỉnh L và Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 28/11/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Cứ A S1; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 01/01/1969; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản X, xã D, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Cứ Chỉn X, đã chết và con bà Thào Thị M, đã chết; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con không có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/1996/HSST ngày 30/10/1996 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, cũ, áp dụng khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985 xử phạt bị cáo 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, áp dụng khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chịu là 15 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/11/1997 và đã chấp hành xong khoản án phí. Hiện nay bị cáo đã được xóa án tích đối với các bản án trên.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 30/7/2025, tạm giam từ ngày 01/8/2025 hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phong Thổ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay (Có mặt tại điểm cầu thành phần – Phân trại tạm giam Phong T, Trại tạm giam Công an tỉnh L).

  • * Người bào chữa cho bị cáo tại điểm cầu thành phần Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt).

  • * Những người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần – Phân trại tạm giam Phong T, Trại tạm giam Công an tỉnh L: Anh Giàng A C và anh La Thành L – Chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam Phong Thổ, Trại tạm giam Công an tỉnh L (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 30/7/2025 Cứ A S1 đang ở nhà thì có một người đàn ông khoảng 40 tuổi đi đến nhà S1 tìm mua Heroine để sử dụng. Qua nói chuyện, người đàn ông điều khiển xe mô tô chở S1 đi đến bản S, xã D để tìm mua Heroine cùng sử dụng. Đi đến đầu bản Sin Chải, bị cáo và người đàn ông cùng góp tiền mỗi người 50.000 đồng, sau đó bị cáo đi vào trong bản Sin C1 gặp một người phụ nữ khoảng 70 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi bị cáo mua được 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh với giá 100.000 đồng. Mua được H1, bị cáo đi bộ ra gặp và đưa cho người đàn ông 01 gói, gói còn lại bị cáo cất giấu vào trong đầu lọc điếu thuốc lá Thăng Long rồi cầm trên tay trái đi về nhà. Đến hồi 13 giờ cùng ngày, khi người đàn ông chở bị cáo đến bản X thì gặp tổ công tác Công an xã D đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Tổ công tác tiến hành kiểm tra bị cáo thì phát hiện trong điếu thuốc lá bị cáo đang cầm trên tay trái có 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh. Lúc này người đàn ông bất ngờ tăng ga xe bỏ chạy, tổ công tác cử cán bộ đuổi theo nhưng không kịp. Tại chỗ, bị cáo khai nhận gói Heroine trên là của bị cáo mua về mục đích cất giấu để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Tại bản kết luận giám định số 620/KL-KTHS ngày 01/8/2025 Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Cứ A S1 có khối lượng là 0,17 gam, là ma túy; loại Heroine.

Bản cáo trạng số 19/CT-VKSKV3 ngày 14/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu đã truy tố bị cáo Cứ A S1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về nội dung bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật ban đầu cho vào 01 phong bì màu trắng, 01 phong bì bên trong có 01 điếu thuốc lá Thăng Long có đầu lọc đã bẻ ra làm 04 đoạn.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để xử bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 13 giờ ngày 30/7/2025 tại bản Xì Phài, xã D, tỉnh Lai Châu, Cứ A đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,17 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã D bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với quan điểm bào chữa của người bào chữa, Hội đồng xét xử xét thấy mức xử phạt theo đề nghị của người bào chữa chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận một phần quan điểm của người bào chữa.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/1996/HSST ngày 30/10/1996 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu (cũ) áp dụng khoản 1 Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 1985 xử phạt bị cáo 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, áp dụng khoản 1 Điều 95 Bộ luật Hình sự năm 1985 xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chịu là 15 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/11/1997 và đã chấp hành xong khoản án phí. Hiện nay bị cáo đã được xóa án tích đối với các bản án trên. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiện đang nằm trong diện nghi sử dụng trái phép chất ma túy trong danh sách người nghi sử dụng trái phép chất ma túy của Công an xã D Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo có mối quan hệ thường xuyên với các đối tượng nghiện chất ma túy trong và ngoài địa bàn.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng nghề nghiệp của bị cáo là lao động tự do, mức thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,17 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập xử lý.

Vật chứng còn lại gồm:

  • - 02 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong mẫu vật ban đầu cho vào 01 phong bì màu trắng, 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 điếu thuốc lá Thăng L1 có đầu lọc đã bị bẻ ra làm 04 đoạn là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo khai mua của một người phụ nữ khoảng 70 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo không có chứng khác chứng minh nên không có cơ sở để điều tra là phù hợp.

Đối với người đàn ông khoảng 40 tuổi, đến gặp và góp tiền cùng bị cáo đi mua Heroine. Kết quả điều tra xác định bị cáo không biết rõ nhân thân, lai lịch của người đàn ông này, ngoài lời khai duy nhất của bị cáo không có chứng cứ nào khác để điều tra làm rõ là phù hợp.

Sau khi bắt quả tang Cứ A, Cơ quan điều tra kiểm tra ma túy trong nước tiểu, kết quả S1 dương tính với M1. Tuy nhiên, S1 không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự nên Cơ quan không điều tra, xử lý S1 về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định.

[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Các Điều 135, 136; 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cứ A S1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cứ A S1 03 năm 04 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 02 mảnh nilon màu xanh, 01 phong bì niêm phong mẫu vật ban đầu cho vào 01 phong bì màu trắng, 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 điếu thuốc lá Thăng L1 có đầu lọc đã bị bẻ ra làm 04 đoạn.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 10/12/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu).

  4. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;

  • - VKSND tỉnh Lai Châu;

  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;

  • - VKSND Khu vực 3 – Lai Châu;

  • - Phòng THADS khu vực 3 - Lai Châu;

  • - Cơ quan THAHS, Công an tỉnh (PC10);

  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh (PC11);

  • - Phân trại tạm giam Phong Thổ;P

  • - Phòng PC01, Công an tỉnh;

  • - Phòng PV06, Công an tỉnh;

  • - Bị cáo;

  • - Người bào chữa;

  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Văn Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cứ A S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger