TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 10-12-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lò Việt Hưng;
2. Ông Lò Văn Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuý Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lò Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T, sinh ngày 02/12/1983 tại xã M, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: Bản L, xã M, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn P, sinh năm 1965 và bà: Lò Thị Ứ, sinh năm 1965; vợ: Lò Thị P1, sinh năm 1982, con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Lò Văn T có 01 tiền án đã được xoá án tích, cụ thể: Tại bản án hình sự số 83/2021/HSST, ngày 17/6/2021, Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt Lò Văn T 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Lò Văn T đã chấp hành xong bản án từ ngày 20/5/2023.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/6/2025, ngày 23/6/2025 bị cáo bị tạm giam đến nay, bị cáo có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Lò Văn H, sinh 1986; Trú tại: Bản N, xã M, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Anh Lò Văn Q, sinh năm 1997; Trú tại: Bản K, xã M, tỉnh Lai Châu (vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O, Luật sư ký hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 45 phút ngày 17/6/2025, tại bản N, xã M, tỉnh Lai Châu, Công an xã M phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính đối với Lò Văn H và Lò Văn Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ 01 bật lửa ga màu xanh, 01 mảnh giấy bạc đã than hoá của Lò Văn Q; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng của Lò Văn H. Về nguồn gốc ma túy sử dụng, Lò Văn H và Lò Văn Q khai mua của Lò Văn T.
Trên cơ sở lời khai của Lò Văn Q và Lò Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Lò Văn T. Quá trình khám xét, Lò Văn T đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 200.000 đồng do bán Heroine mà có và 03 gói (đều được gói bằng nilon màu trắng), bên trong chứa chất bột khô, màu trắng do Lò Văn T khai nhận là Heroine, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ vật chứng và niêm phong theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn T khai nhận: Vào khoảng 18 giờ ngày 16/6/2025, Lò Văn T đi lên xã T, tỉnh Lai Châu (nay là xã M, tỉnh Lai Châu), mục đích tìm mua Heroine để sử dụng và bán. Khi đi qua cổng trụ sở UBND xã Tà Mung thì T gặp một người đàn ông giới thiệu tên là Sùng A H1 (T không rõ nhân thân, lai lịch). Qua trao đổi, T đã mua của người đàn ông đó 06 gói Heroine đều được gói bằng mảnh nilon màu trắng với số tiền 300.000 đồng. Mua được H2, T mang về nhà của T cất giấu không cho ai biết. Đến sáng ngày 17/6/2025, T lấy 01 gói Heroine ra sử dụng hết bằng hình thức hít, 05 gói Heroine còn lại Tự cất trong lọ thuỷ tinh có nắp đậy rồi để trong buồng ngủ của T. Đến khoảng 13 giờ ngày 17/6/2025, khi Lò Văn T đang ngủ trưa ở nhà mình thì Lò Văn Q và Lò Văn H đi xe mô tô đến nhà T. Q điều khiển xe mô tô chở H đến cổng nhà T thì dừng lại, Q trực tiếp hỏi mua Heroin của T, T hỏi lại Q: mua bao nhiêu? Q trả lời: bọn em mua 200.000 đồng. Sau khi nghe Q nói, T đi vào buồng ngủ lấy ra 02 gói Heroine rồi đi xuống cầu thang đến chỗ cổng nhà (cổng bằng rào tre), T đứng bên trong còn Q và H đứng bên ngoài. T nhìn thấy H và Q cùng lấy tiền trong túi quần ra mỗi người 100.000 đồng, H đưa tiền cho Q để Q góp thêm 100.000 đồng được tổng số 200.000 đồng đưa cho T. Nhận tiền Q đưa, T đưa 02 gói Heroine cho H cầm và bảo H đưa cho Q. Sau đó, Q và H chia nhau mỗi người một gói Heroine rồi đến khu vực thuộc bản N, xã M, tỉnh Lai Châu đi vào bụi cây ven đường. Tại đây, Q sử dụng Heroine bằng hình thức hít, H sử dụng bằng hình thức chích. Khi Q và H vừa sử dụng xong thì bị lực lượng Công an xã M phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý hồi 13 giờ 45 phút cùng ngày 17/6/2025, thu giữ 01 bơm kim tiêm, 01 bật lửa ga màu xanh và 01 mảnh giấy bạc đã than hoá.
Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ số chất bột khô, màu trắng có trong 03 gói nilon thu giữ của Lò Văn T gửi giám định. Bản kết luận giám định số 522/KL-KTHS ngày 20/6/2025 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 03 (ba) mẫu chất bột khô, màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Lò Văn T có tổng khối lượng 0,21 gam; là ma tuý; loại Heroine (H).
Bản kết luận giám định số: 524/KL-KTHS, ngày 20/6/2025 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: số tiền 200.000 đồng, thu giữ của Lò Văn T gửi giám định là tiền thật.
Bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-KV2, ngày 20/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu để xét xử Lò Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 003 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn H; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá thu giữ của Lò Văn Q. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
Người bào chữa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Lò Văn T, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì. Bị cáo T đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không bổ sung gì thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 16/6/2025, tại khu vực trụ sở UBND xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn T đã mua trái phép 06 gói Heroine với số tiền 300.000 đồng từ một người đàn ông không rõ lai lịch, mục đích để sử dụng và bán. Sau đó, Lò Văn T mang Heroine về nhà tại bản Là 1, xã M, tỉnh Lai Châu và đã sử dụng hết 01 gói. Đến khoảng 13 giờ ngày 17/6/2025, Lò Văn T đã cùng lúc bán trái phép 02 gói Heroine cho 02 người là: Lò Văn Q và Lò Văn H lấy tổng số tiền 200.000 đồng. Khám xét khẩn cấp người và nơi ở của Lò Văn T, Cơ quan điều tra thu giữ 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,21 gam và số tiền 200.000 đồng do T bán H2 cho Q và H mà có.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì hám lợi bất chính mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2021 bị cáo T đã bị xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, do vậy quá trình lượng hình hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên toà, người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật hạn chế. Hội đồng xét xử xét thấy năm 2021 bị cáo T đã bị xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị cáo T mới chấp hành án về địa phương vào ngày 20/5/2023, bị cáo biết tác hại của ma tuý và nhận thức được ma tuý là chất Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do vậy không chấp nhận đề nghị của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát khu vực 2 – Lai Châu về việc cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại điện Viện kiểm sát khu vực 2 – Lai Châu đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Xét thấy đề nghị của người bào chữa về mức hình phạt cho bị cáo là chưa đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Quan điểm đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu đối với bị cáo tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập và việc làm ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 0,21 gam Heroine thu giữ của Lò Văn T đã gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 03 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng thu giữ của Lò Văn H; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá thu giữ của Lò Văn Q là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lò Văn T là số tiền bị cáo thu lợi bất chính nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Lò Văn T.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc H2, bị cáo Lò Văn T khai mua của Sùng A H1; cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (không rõ tuổi, nơi ở cụ thể). Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh: trên địa bàn xã T có công dân Nam giới tên Sùng Súa H3, sinh năm 1976 (tên thường gọi là H1); cư trú tại bản Đ, xã T, huyện T (cũ), tỉnh Lai Châu (nay là bản Đ, xã M, tỉnh Lai Châu). Quá trình lấy lời khai của Sùng Súa H3 và đối chất giữa T và H3, kết quả: Sùng Súa H3 khẳng định không quen biết và không có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn T. Ngoài lời khai của Lò Văn T không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh Sùng Súa Hộ bán Heroine cho Lò Văn T nên chưa đủ cơ sở để kết luận và xử lý đối với Sùng Súa Hộ về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lò Văn Q và Lò Văn H, Công an xã M đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Công an xã M phát hành bên trong đựng 01 vỏ bì niêm phong ban đầu, 03 mảnh nilon màu trắng; 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu xanh đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc đã than hoá.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2025.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 45 phút, ngày 04/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Lai Châu).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS
