Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - THANH HÓA

Bản án số: 173/2025/DS-ST

Ngày: 12-12-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.

2. Ông Phạm Viết Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 20/2025/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QÐST-DS ngày 26 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Công ty Cổ phần M2.

    Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, số I D, phường C, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T, chức vụ: Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1, chức vụ: Trưởng phòng xử lý nợ miền B.

    Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn M và ông Trần Mạnh Đ, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.

  2. Ngân hàng TMCP V (V1).

    Địa chỉ: Tòa nhà V, số H L, phường Đ, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D, chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L, chức vụ: Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý.

Người được ủy quyền lại: Bà Tống Thị L1, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ.

- Bị đơn:

Ông Trịnh Văn P, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: Thôn L, xã Y, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Văn T2, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt ông Nguyễn Văn M và bà Tống Thị L1; vắng mặt ông Trịnh Văn P và ông Phạm Văn T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện ngày 10/4/2025, bản tự khai ngày 29/10/2025, quá giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V thống nhất trình bày:

Ngân hàng TMCP V (V1) cho ông Trịnh Văn P vay tiền theo các hợp đồng tín dụng:

  • Hợp đồng cho vay số LN2307039622710, ngày 06/7/2023, thời hạn cho vay: 300 tháng, mục đích vay: Hoàn vốn mua bất động sản, số tiền cho vay: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng), lãi suất trong hạn 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân là 12,6%/năm, sau đó được điều điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở cộng với biên độ 2,5%/năm.
  • Hợp đồng cho vay số LN2307039622608, ngày 06/7/2023, thời hạn cho vay: 300 tháng, mục đích vay: Vay hoàn vốn mua bất động sản, số tiền cho vay: 2.990.000.000 đồng (Hai tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng), lãi suất trong hạn 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân là 12,6%/năm, sau đó được điều điều chỉnh bằng lãi suất cơ sở cộng với biên độ 2,5%/năm.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông P đã ký Hợp đồng thế chấp số LN23007039622608 ngày 05/7/2023, thế chấp các tài sản gồm:

  • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 679, tờ bản đồ số 7, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện N (nay là xã N), tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 853043, số vào sổ cấp GCN: CH01307, do UBND huyện N cấp ngày 24/9/2013 mang tên ông Phạm Văn Ư. Ngày 30/6/2023 tại văn phòng đăng ký đất đai huyện N đăng ký chuyển nhượng cho ông Trịnh Văn P.
  • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 678, tờ bản đồ số 7, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã T, huyện N (nay là xã N), tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 853030, số vào sổ cấp GCN: CH01294, do UBND huyện N cấp ngày 24/9/2013 đứng tên ông Phạm Văn T2. Ngày 30/6/2023 tại văn phòng đăng ký đất đai huyện N đăng ký chuyển nhượng cho ông Trịnh Văn P.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông P mới trả được số tiền nợ gốc là 20.764.284 đồng và lãi 128.040.747 đồng, tổng gốc và lãi là 148.805.031 đồng. Ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 14/6/2024 nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 15/6/2025.

Ngày 30/9/2024, V1 đồng ý bán và Công ty cổ phần M2 (viết tắt là Công ty M2) đồng ý mua một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo 02 Hợp đồng tín dụng đã ký giữa V1 với ông P. Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M2 kế thừa một phần quyền, nghĩa vụ của V1 phát sinh từ các hợp đồng này và các biện pháp bảo đảm kèm theo.

Quá trình xử lý khoản vay, V1 và Công ty M2 đã nhiều lần đôn đốc nhưng ông P vẫn không thể thực hiện được nghĩa vụ thanh toán.

Vì vậy, V1 và Công ty M2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông P phải có nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng tính đến ngày xét xử sơ thẩm 12/12/2025 theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, cụ thể:

  • Trả cho công ty M2: Nợ gốc là 3.752.312.144 đồng; Nợ lãi gồm: Lãi trong hạn là 325.496.854 đồng, lãi quá hạn là 942.733.456 đồng, lãi chậm trả là 131.402.028 đồng, tổng lãi là 1.399.632.338 đồng. Tổng gốc và lãi là 5.151.944.482 đồng.
  • Trả cho V1: Nợ gốc là 416.923.572 đồng; Nợ lãi gồm: Lãi trong hạn là 36.166.317 đồng, lãi quá hạn là 104.748.162 đồng, lãi chậm trả là 14.600.225 đồng, tổng lãi là 155.514.704 đồng. Tổng gốc và lãi là 572.438.276 đồng.

Tổng số tiền ông P phải thanh toán cho Công ty M2 và V1 là 5.724.382.758 đồng (trong đó: Nợ gốc là 4.169.235.716 đồng, nợ lãi là 1.555.147.042 đồng).

Yêu cầu ông P phải tiếp tục trả lãi trên số nợ chưa trả theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng kể từ ngày 13/12/2025.

Trường hợp ông P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết thì Công ty M2 và V1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ để trả nợ, thì ông P tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho M1 và V1 cho đến khi trả hết nợ.

*Bị đơn là ông Trịnh Văn P có hộ khẩu thường trú tại L, xã Y, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho ông P, nhưng ông P không có nhà. Vì vậy, Tòa án đã giao thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bố mẹ đẻ ông P, đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng này tại UBND xã Y, tỉnh Thanh Hóa theo quy định của pháp luật. Ông P đã được bố mẹ đẻ thông báo, biết việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án và triệu tập đến Tòa án nhưng ông P không nộp văn bản nêu ý kiến của mình, không đến Tòa án làm việc, không cung cấp địa chỉ nơi ở hiện tại của mình. Vì vậy không có lời khai của ông P trong hồ sơ vụ án và không tiến hành hòa giải được.

Tại Biên bản xác minh ngày 04/9/2025, mẹ đẻ ông P là bà Lưu Thị T3 trình bày: Việc ông P vay tiền của Ngân hàng TMCP V bà không biết. Các văn bản tố tụng Tòa án giao cho gia đình bà, bà đã giao lại cho ông P. Ông P đã biết Tòa án thụ lý giải quyết vụ án.

*Tại bản tự khai ngày 05/9/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn T2 trình bày:

Ông là con trai của ông Phạm Văn Ư, sinh năm: 1962, địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Năm 2013, ông Ư được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 853043 đối với thửa đất số 679, tờ bản đồ số 7. Năm 2023, ông Ư đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 679 cho ông Trịnh Văn P. Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trên đất có 01 ngôi nhà 01 tầng, hiện nay ông vẫn đang ở trên ngôi nhà này với tư cách là người ở nhờ. Nếu Tòa án cần phát mại tài sản để thanh toán khoản nợ của ông P với Ngân hàng thì ông đồng ý, không có ý kiến gì.

*Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/9/2025 đối với 02 tài sản thế chấp như sau:

  • Thửa đất số 679, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa có diện tích 1.340,3m². Trên đất có 01 ngôi nhà cấp bốn 01 tầng diện tích 126m², bán bình trước nhà và bên hông nhà, cổng và một số cây cối. Hiện tại gia đình ông Phạm Văn T2 đang ở trên ngôi nhà này.
  • Thửa đất số 678, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa có diện tích 1.450.8m². Trên đất có 01 ngôi nhà 02 tầng, tầng 2 chưa lợp mái, diện tích sử dụng 450m². Nhà không có người ở.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình.
  • Về nội dung: Áp dụng Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 280, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 398, 401, 463 và 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103, Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Trịnh Văn P phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty M2 và V1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 12/12/2025 là 5.724.382.758 đồng (trong đó nợ gốc là 4.169.235.761 đồng, nợ lãi là 1.555.147.042 đồng), cụ thể đối với từng nguyên đơn như sau:

  • Trả cho công ty M2: Nợ gốc là 3.752.312.144 đồng, nợ lãi là 1.399.632.338 đồng, tổng gốc và lãi là 5.151.944.482 đồng.
  • Trả cho V1: Nợ gốc là 416.923.572 đồng, nợ lãi là 155.514.794 đồng, tổng gốc và lãi là 572.438.276 đồng.

Trường hợp ông P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty M2 và V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với 02 thửa đất đứng tên ông P để thu hồi nợ.

Về án phí: Ông P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Văn P và ông Phạm Văn T2 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P và ông T2.

[3] Xét yêu cầu trả nợ gốc và lãi:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ có tài liệu, chứng cứ chứng minh là 02 hợp đồng tín dụng được ký kết giữa V1 và ông Trịnh Văn P, gồm:

  • Hợp đồng cho vay số LN2307039622710, ngày 06/7/2023: Số tiền cho vay: 1.200.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm triệu đồng).
  • Hợp đồng cho vay số LN2307039622608, ngày 06/7/2023: Số tiền cho vay: 2.990.000.000 đồng (Hai tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng)

Các hợp đồng nêu trên có đầy đủ chữ ký của các bên, có hình thức, nội dung phù hợp với quy định của pháp luật (bao gồm cả thỏa thuận về lãi suất), các bên tự nguyện giao kết, nên các hợp đồng đều hợp pháp.

Sau khi vay tiền, ông P đã trả được cho Công ty M2 và V1 số tiền nợ gốc là 20.764.284 đồng và lãi 128.040.747 đồng, tổng gốc và lãi là 148.805.031 đồng. Ông P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 14/6/2025.

Ngày 30/09/2024, V1 đã bán cho Công ty M2 tổng là 90% khoản nợ theo 02 hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Công ty M2 và V1 là chủ nợ có quyền khởi kiện ông P yêu cầu trả nợ.

Công ty M2 và V1 đã giao nộp cho Tòa án bảng kê tính lãi đến ngày 29/9/2025, HĐXX đã kiểm tra thấy rằng việc tính lãi của nguyên đơn là chính xác, lãi suất tính đúng theo hợp đồng tín dụng, phù hợp với quy định của pháp luật. Tính đến ngày mở phiên tòa 12/12/2025, ông P còn nợ Công ty M2 và V1 như sau:

  • Nợ gốc: 4.169.235.716 đồng.
  • Nợ lãi gồm: Lãi trong hạn: 361.663.171 đồng, lãi quá hạn: 1.047.481.618 đồng, lãi chậm trả: 146.002.253 đồng. Tổng lãi là 1.555.147.042 đồng.

Tổng gốc và lãi là 5.724.382.758 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông P theo quy định của pháp luật. Ông P đã biết việc Tòa án thụ lý giải quyết vụ án nhưng không đến Tòa án, không có ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, coi như ông P đã mặc nhiên chấp nhận việc khởi kiện.

Do đó, việc Công ty M2 và V1 khởi kiện yêu cầu ông P trả tổng số nợ gốc và lãi tính đến ngày 12/12/2025 là 5.724.382.758 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận. Công ty M2 và V1 yêu cầu chia phần cụ thể là phù hợp với thỏa thuận trong các hợp đồng mua bán nợ nên được chấp nhận.

Buộc ông P phải trả cho Công ty cổ phần M2 số tiền tính đến ngày 12/12/2025 là: Nợ gốc là 3.752.312.144 đồng, nợ lãi là 1.399.632.338 đồng, tổng gốc và lãi là 5.151.944.482 đồng.

Buộc ông P phải trả cho V1 số tiền tính đến ngày 12/12/2025 là: Nợ gốc là 416.923.572 đồng, nợ lãi là 155.514.794 đồng, tổng gốc và lãi là 572.438.276 đồng.

Ông P tiếp tục phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn mà các bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho Công ty M2 và V1. Lãi phát sinh phải trả cho M1 và V1 tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.

[4] Về xử lý tài sản thế chấp:

Khi vay tiền, ông Trịnh Văn P đã ký Hợp đồng thế chấp số LN23007039622608 ngày 05/7/2023 với V1, thế chấp các tài sản gồm:

  • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 679, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa.
  • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 678, tờ bản đồ số 7, địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện nay, gia đình ông Phạm Văn T2 đang mượn ngôi nhà cấp bốn trên thửa đất số 679 của ông P để sử dụng. Ông T2 đồng ý trả nhà để Ngân hàng xử lý thế chấp theo quy định của pháp luật.

Xét thấy các tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông P, hợp đồng thế chấp đã được công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực; ông T2 là người mượn nhà cũng chấp nhận xử lý tài sản thế chấp. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

Đối với 02 thửa đất thế chấp, theo đo đạc thực tế diện tích giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể thửa đất số 679 có diện tích 1.340,3m² (giảm 6m²), thửa đất số 678 có diện tích 1.450.8m² (giảm 22,1m²) do chủ cũ là ông Phạm Văn Ư và ông Phạm Văn T2 đã hiến đất làm đường đã được đăng ký biến động trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, công diện tích thửa đất theo số liệu thực tế.

[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp tạm ứng và thanh toán với Tòa án chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng. Nguyên đơn trình bày sẽ tự thỏa thuận với bị đơn để xử lý số tiền này. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Vì vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 113.724.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025); Các điều 280, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 398, 401, 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 100, Điều 103, Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Buộc ông Trịnh Văn P có nghĩa vụ trả cho Công ty cổ phần M2 và Ngân hàng TMCP V (V1) tổng số tiền nợ gốc và lãi là 5.724.382.758 đồng (Năm tỷ bảy trăm hai mươi tư triệu ba trăm tám mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 4.169.235.716 đồng, nợ lãi là 1.555.147.042 đồng.

    Chia theo phần cụ thể như sau:

    • Ông Trịnh Văn P phải trả cho Công ty cổ phần M2 tổng số tiền là 5.151.944.482 đồng (Năm tỷ một trăm năm mươi mốt triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn, bốn trăm tám mươi hai đồng), trong đó: Nợ gốc là 3.752.312.144 đồng, nợ lãi là 1.399.632.338 đồng.
    • Ông Trịnh Văn P phải trả cho V1 tổng số tiền là 572.438.276 (Năm trăm bảy mươi hai triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn hai trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 416.923.572 đồng, nợ lãi là 155.514.794 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông P phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng. Lãi phát sinh phải trả cho M1 và V1 tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà ông P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Công ty M2 và V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ, bao gồm:

    • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất đối tại thửa đất số 679, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.340,3m², địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 853043, số vào sổ cấp GCN: CH01307, do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 24/9/2013. Ngày 30/6/2023 tại văn phòng đăng ký đất đai huyện N đăng ký chuyển nhượng cho ông Trịnh Văn P.
    • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với thửa đất đối tại thửa đất số 678, tờ bản đồ số 7, diện tích 1.450.8m², địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 853030, số vào sổ cấp GCN: CH01294, do UBND huyện N, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 24/9/2013. Ngày 30/6/2023 tại văn phòng đăng ký đất đai huyện N đăng ký chuyển nhượng cho ông Trịnh Văn P.

    Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ để trả nợ, thì ông P tiếp tục có nghĩa vụ trả hết nợ cho M1 và V1.

  2. Về án phí:

    Ông Trịnh Văn P phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 113.724.000 đồng (Một trăm mười ba triệu bảy trăm hai mươi tư nghìn đồng).

    • Trả lại cho Công ty cổ phần M2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.179.000 đồng (Năm mươi sáu triệu một trăm bảy mươi chín nghìn đồng), theo biên lai thu số 0000564 ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Thanh Hóa).
    • Trả lại cho Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.074.000 đồng (Mười hai triệu không trăm bảy mươi tư nghìn đồng), theo biên lai thu số 0000565 ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Thanh Hóa).
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Công ty cổ phần M2, Ngân hàng TMCP V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trịnh Văn P và ông Phạm Văn T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND khu vực 8 – Thanh Hoá;
  • - Thi hành án DS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 173/2025/DS-ST ngày 12/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 173/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng buộc ông P trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger