TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 173/2025/DS-PT Ngày 24-12-2025 V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Giang và bà Trần Thị Vân Thúy.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 203/2025/TLPT-DS, ngày 03 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện khu vực 8 - Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 226/2025/QĐXXPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị D, sinh năm 1933. Địa chỉ: Số B B, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Đắc K2, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số A B, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1966; địa chỉ: Số A B, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Ông Lê Đắc K, sinh năm 1969; bà Lê Thị S, sinh năm 1975; địa chỉ: Số B B, phường L, thành phố Hải Phòng; cả hai đều có mặt.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A B, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1961; chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1991; anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1993; đều có địa chỉ: Số A B, phường L, thành phố Hải Phòng; ông T1, chị P, anh Đ1 đều vắng mặt.
- Người kháng cáo:
- Ông Lê Đắc K2, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số A B, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Ông Lê Đắc K, sinh năm 1969; bà Lê Thị S, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số B B, phường L, thành phố Hải Phòng; ông K, bà S đều có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Đắc K, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số B B, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Trung K1 - Luật sư văn phòng L - Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: A Hồ N, phường T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, chị P, anh Đ1 là bà Lê Thị S, sinh năm 1975; địa chỉ: Số B B, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn cụ Nguyễn Thị D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Đắc K trình bày:
Cụ Nguyễn Thị D và cụ Lê Trọng S1 (Lê Đắc S2), (chết năm 2001) chung sống với nhau và sinh được 04 người con gồm bà Lê Thị B sinh năm 1963; bà Lê Thị Đ sinh năm 1966; ông Lê Đắc K sinh năm 1969; ông Lê Đắc K2 sinh năm 1973. Bà Lê Thị B, chết năm 2011 có chồng là ông Nguyễn Văn T1 sinh năm 1961 và có 02 con chung là Nguyễn Thị P sinh năm 1991 và Nguyễn Văn Đ1 sinh năm 1993. Bố chồng cụ D là cụ Lê Trọng T2, chết năm 1944; mẹ chồng là cụ Lê Thị B1 chết năm 1975. Ngoài ra các cụ không có con nuôi, con riêng, cụ S2 không có bố nuôi mẹ nuôi nào khác. Trước khi chết cụ S2 không để lại di chúc và nghĩa vụ về tài sản.
Quá trình chung sống các cụ tạo lập được khối tài sản chung gồm các thửa đất 244, tờ bản đồ 62, thửa 18 và một phần thửa 08 tờ bản đồ 73, địa chỉ: Khu H, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là khu H, phường L, thành phố Hải Phòng).
Về nguồn gốc hình thành các thửa đất trên: Theo tờ bản đồ 299, thửa 343 diện tích 674m² tuy nhiên tại sổ mục kê lại ghi diện tích 480m², loại đất thổ cư (chủ sử dụng Lê Đắc S2); thửa 353, diện tích 1110 m², loại đất ao (không ghi chủ sử dụng vì chung diện tích cùng các hộ gia đình khác). Theo tờ bản đồ 02 và sổ mục kê năm 1995, diện tích đất trên được tách thành thửa 304 diện tích 453m², loại đất thổ cư (chủ sử dụng Lê Đắc K2); thửa 318, diện tích 220 m², loại đất ao (chủ sử dụng Lê Đắc K2); thửa 319, diện tích 352 m², loại đất thổ cư (chủ sử dụng Lê Đắc K). Đến sổ mục kê năm 2004, tại tờ bản đồ 62, thửa 244, diện tích 361,1 m², loại đất ở (chủ sử dụng Lê Đắc K2); thửa 18, tờ bản đồ 73, diện tích 104,6 m², loại đất ở (chủ sử dụng Lê Đắc K); thửa 08, tờ bản đồ 73, diện tích 682,6 m² (chủ sử dụng Lê Đắc K + Lê Đắc C). Sở dĩ tại sổ mục kê ghi chủ sử dụng là ông K và ông C là do trước kia ông ông C và ông K có tranh chấp về mốc giới nên đã gộp hai thửa đất của hai gia đình thành thửa 08.
Tại thời điểm làm đơn khởi kiện, cụ D đề nghị tòa án chia di sản thừa kế của cụ S2 để lại gồm 1/2 quyền sử dụng đất tại thửa 08,18 và 244 địa chỉ: Khu H, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là khu H, phường L, thành phố Hải Phòng). Đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO578859, số vào sổ CH-00979 do UBND thành phố H cấp ngày 20/8/2018 đứng tên ông Lê Đắc K2 và bà Nguyễn Thị T. Tuy nhiên trước phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, cụ không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, các phần đất vợ chồng ông K2 và vợ chồng ông K đã xây dựng nhà kiên cố thì cụ không yêu cầu phân chia cụ chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế đối với diện tích đất 220 m² đất ao. Cụ tự nguyện tặng cho ông K phần tài sản của mình trong khối tài sản chung với cụ S2 và phần di sản thừa kế do cụ S2 để lại và tự nguyện không yêu cầu ông K phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên toà bị đơn ông Lê Đắc K2 trình bày:
Ông nhất trí với trình bày của cụ D về hàng thừa kế và nguồn gốc di sản thừa kế. Tuy nhiên không đồng ý với yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ D bởi lẽ thửa đất 244, tờ bản đồ 62 ông đã được bố mẹ cho từ năm 1993, đến năm 2004 ông kê khai đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cụ D và những hàng thừa kế khác có văn bản thỏa thuận cho vợ chồng ông. Năm 2008, vợ chồng ông xây nhà kiên cố hai tầng có khuôn viên ổn định như hiện nay, sau đó còn sửa chữa cải tạo ngôi nhà cấp 4 cũ của các cụ để xây phòng trọ. Cụ D và anh chị em trong gia đình đều nhất trí. Ngày 20/8/2018, UBND thành phố H cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CO578859, số vào sổ CH-00979 đứng tên ông K2 và bà T. Nhà đất trên thuộc quyền quản lý sử dụng hợp pháp của vợ chồng ông nên cụ D không có quyền yêu cầu phân chia. Nay cụ D không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rút một phần yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế thửa đất 244, thửa 18, ông hoàn toàn nhất trí. Phần đất vợ chồng ông và vợ chồng ông K đã xây dựng nhà và các công trình kiên cố thì của ai người đó tiếp tục quản lý sử dụng, ông không tranh chấp gì.
Đối với diện tích 220m tại thửa 08, trước kia của bố ông mua lại của cụ Lê Đắc D1. Khi còn sống bố ông đã tặng cho ông. Việc tặng cho chỉ nói bằng miệng. Năm 1995 khi địa phương tiến hành đo đạc đã ghi tên ông là chủ sử dụng hợp pháp. Vợ chồng ông đã san lấp, tôn tạo trồng hoa màu, trồng đào. Đến năm 2005, cụ D viết di chúc trong đó có nội dung định đoạt cho vợ chồng ông diện tích đất trên sau khi qua đời. Tuy nhiên từ khi nội bộ gia đình phát sinh mâu thuẫn, cụ D không ở cùng vợ chồng ông mà chuyển sang ở với vợ chồng ông K cho đến nay và cho vợ chồng ông quản lý sử dụng diện tích đất trên. Ông đề nghị tòa án buộc vợ chồng ông K (là người đang trực tiếp quản lý sử dụng đất) phải trả lại ông diện tích đất trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T (vợ ông K2) trình bày: Bà nhất trí lời trình bày của ông K2 và bổ sung thêm: trong khoảng thời gian từ năm 1998-2000 vợ chồng bà mua của ông Trần Văn K3 50 xe công nông đầu dọc đất màu để san lấp ao, trồng rau màu và trồng đào. Đề nghị xem xét công sức quản lý di sản; tôn tạo, vượt lập ao.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị S (vợ ông K) trình bày: Bà nhất trí với lời trình bày của ông K, bà cũng đề nghị tòa án xem xét đến công sức trông nom, quản lý, san lấp, tôn tạo di sản bởi lẽ trước kia một phần đất tranh chấp là ao và vườn trũng nên vợ chồng bà phải san lấp, tôn tạo thêm đất phù sa, cát để có thể sử dụng như hiện nay. Trong quá trình sử dụng đất gia đình bà có mua thêm một phần đất của gia đình anh Lê Dắc T3 về phía Tây Nam của thửa đất, hiện nay đang làm xưởng gỗ, việc mua bán chuyển nhượng chỉ viết tay không công chứng chứng thực và không liên quan gì đến phần đất cụ D chia di sản thừa kế. Tòa án căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ông Lê Đắc C trình bày: Trước kia gia đình ông và gia đình ông S2 đều có một phần đất ao chung với các hộ gia đình khác tại thửa 353, diện tích 1110 m2 (không ghi chủ sử dụng). Theo hồ sơ địa chính còn lưu giữ thì năm 1996, thửa đất ao của ông là thửa 317, diện tích 341m2 và thửa đất ao của cụ S2 là thửa 318, diện tích 220m2. Đến năm 2005, giữa hai gia đình xảy ra tranh chấp về mốc giới nên đã nhập hai thửa đất trên thành thửa 08, diện tích 682,6 m² (chủ sử dụng Lê Đắc K + Lê Đắc C). Sự việc tranh chấp giữa gia đình được giải quyết bằng Quyết định của UBND thành phố H và UBND tỉnh H đã có hiệu lực. Ông có nguyện vọng cơ quan có thẩm quyền sớm giải quyết dứt điểm để ông đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Người làm chứng ông Lê Đắc B2 và ông Lê Trọng T4 đều thống nhất trình bày: Các ông là người cùng ngõ với gia đình ông K và gia đình ông K2, làm nghề chở nguyên vật liệu xây dựng, gia đình các ông không có mâu thuẫn với các đương sự trong vụ án. Vào năm 1995 hai ông có chở cát và đất màu vào ao cho ông K, bà S. Bà S là người trực tiếp trả tiền cho ông. Ông chở khoảng 220m³ cát và khoảng 352m³ đất phù sa.
Người làm chứng ông Trần Văn K3 trình bày: Từ năm 1998-2000 ông bán cho vợ chồng ông K2 50 xe công nông đầu dọc đất màu để san lấp ao, trồng rau màu và trồng đào. Vì thời gian đã lâu nên ông không nhớ khối lượng cụ thể. Vợ chồng ông K2 là người trực tiếp trả tiền ông.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng đã quyết định: Căn cứ Điều 611,612 623, Điều 649, 650, 651, 658, 660, 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 5 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình; Pháp lệnh thừa kế năm 1990 của Hội đồng Nhà nước Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- -Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Lê Trọng S1 để lại gồm 1/2 quyền sử dụng đất tại thửa 18, tờ bản đồ 73 và thửa 244 tờ bản đồ 62 địa chỉ: Khu H, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là phường L, thành phố Hải Phòng).
- -Áng trích công sức cho vợ chồng ông Lê Đắc K, bà Lê Thị S bằng 01 suất thừa kế, công sức vợ chồng ông Lê Đặc K4, bà Nguyễn Thị T bằng 01 suất thừa kế, mỗi suất 319.000.000 đồng (trong đó, ông K là 2/3 một suất thừa kế = 212.666.667 đồng, bà S là 1/3 suất thừa kế = 106.333.233 đồng; ông K4 2/3 một suất thừa kế = 212.666.667 đồng, bà T là 1/3 suất thừa kế = 106.333.233 đồng).
- Về phân chia di sản. Tổng di sản của cụ S1 sau khi trừ đi công sức là 957.000.000 đồng được chia thành 5 phần bằng nhau. Cụ Nguyễn Thị D, bà Lê Thị Đ, ông Lê Đắc K và ông Lê Đắc K2 mỗi người được 191.400.000 đồng; ông Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn Đ1 mỗi người được hưởng 63.800.000 đồng.
Cụ D, bà Đ, ông T1, chị P, anh Đ1 tự nguyện tặng cho ông K phần di sản của mình. Tổng giá trị di sản ông K được hưởng 765.600.000 đồng.
Ông K phải có trách nhiệm thanh toán cho ông K2 số tiền là 404.066.667 đồng; thanh toán cho bà T số tiền 63.800.000 đồng; thanh toán cho bà S số tiền 63.800.000 đồng.
Về hiện vật: Giao ông K được toàn quyền quản lý sử dụng diện tích đất ao 220m² tại thửa 08, tờ bản đồ 73 địa chỉ khu H, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là phường L, thành phố Hải Phòng) (có sơ đồ đo vẽ kèm theo).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về, án phí, quyền yêu cầu thi hành án, lãi suất chậm trả, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 15/9/2025 bị đơn ông Lê Đắc K2 kháng cáo một phần Bản án dân sự sơ thẩm với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của ông đối với thửa đất 318, diện tích 220m², tờ bản đồ số 02, địa chỉ Khu H, phường L, thành phố Hải Phòng và xác định thửa đất trên không phải là di sản thừa kế.
Ngày 25/9/2025 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Đắc K và bà Lê Thị S kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận trả công sức san lấp, trông nom, quản lý di sản của vợ chồng ông K2, bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Lê Đắc K2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà ông Lê Đắc K và bà Lê thị S giữ nguyên nội dung kháng cáo. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nhất trí như quan điểm của ông K. Ông K nộp các giấy xác nhận của ông Lê Đắc B2, Vũ Văn C1, bà Hoàng Thị H, ông Lê Đắc T5, cụ Nguyễn Thị D, Lê Thị Đ, Nguyễn Văn Đ1, Nguyễn Văn T1 thể hiện việc ông K2 có thuê, mua đất để san lấp ao.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Đắc K2, ông Lê Đắc K, bà Lê Thị S, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm. Về án phí phúc thẩm: Ông K2, Ông K, bà S phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa. Ý kiến của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng và đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Đương sự kháng cáo trong thời hạn quy định nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Việc tham gia phiên tòa của những người được Tòa án triệu tập: Nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn Đ1 vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền. Do vậy, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
- [2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Lê Đắc K2, HĐXX xét thấy: Trong lời khai của ông cho rằng diện tích đất ao đang tranh chấp là bố ông tặng cho ông (tặng cho miệng, không thể hiện bằng văn bản), nhưng ngoài phần trình bày như trên, ông không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc tặng cho tài sản trên. Diện tích ao đã san lấp và được ghi vào sổ sách của địa phương. Ngoài ra, ông trình bày cụ D là mẹ ông đã làm di chúc định đoạt cho ông diện tích nêu trên tuy nhiên đến nay cụ D vẫn còn sống và đã khởi kiện yêu cầu chia thừa kế đối với tài sản đó, thể hiện ý chí của cụ D đã thay đổi và phần nội dung di chúc ông đưa ra đã không còn hiệu lực và không phải là căn cứ để chứng minh nguyện vọng của cụ D sẽ để lại tài sản cho ông. Theo căn cứ tại bản đồ 299 thể hiện diện tích đất trên đứng tên cụ Lê Trọng S1 (Lê Đắc S2) nhưng là tài sản chung của vợ chồng cụ S2 và cụ D, cụ D có quyền định đoạt ½ khối tài sản nói trên (110m² đất), việc cụ D thể hiện ý chị tặng cho ông Lê Đắc K là tự nguyện và được pháp luật công nhận. Đối với diện tích 110m² còn lại Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định là phần di sản do cụ S2 để lại, cụ S2 chết năm 2001 không để lại di chúc, việc Tòa án cấp sơ thẩm chia thừa kế theo luật là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Đắc K2.
- [3] Đối với yêu cầu kháng cáo của ông Lê Đắc K và bà Lê Thị S, HĐXX xét thấy: Diện tích đất 220m² đất tại thửa đất 318, tờ bản đồ số 02, trong sổ mục kê năm 1995 ghi tên ông Lê Đắc K2, thửa đất trên nằm trên tổng thể diện tích đất của cụ Lê Trọng S1 và cụ Nguyễn Thị D, trên thửa đất có gia đình ông K2 và gia đình ông K cùng sinh sống, sau đó có một thời gian dài ông K2, bà Nguyễn Thị T (vợ ông K2) đã quản lý, sử dụng tu bổ, tôn tạo thửa đất bao gồm cả diện tích đất là di sản thừa kế. Tại phiên tòa phúc thẩm ông K nộp các tài liệu xác nhận của những người đã chở, đổ đất cho gia đình ông K lấp ao, các xác nhận trên cũng phù hợp với việc Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận cả phần đóng góp của vợ chồng ông K và vợ chồng ông K2 là những người cùng sinh sống, quản lý, sử dụng thửa đất nói trên và trích phần công sức cho cả hai bên là thấu tình, đạt lý, có căn cứ theo quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của các bên. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Lê Đắc K và bà Lê Thị S về việc không trích trả công sức cho vợ chồng ông K2, bà T.
- [4] Các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo là có căn cứ. HĐXX không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các đương sự. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 11/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8-Hải Phòng.
- [5] Về án phí: Kháng cáo của ông Lê Đắc K2, ông Lê Đắc K và bà Lê Thị S không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- [6] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của ông Lê Đắc K2, ông Lê Đắc K và bà Lê Thị S.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng về việc Tranh chấp về thừa kế tài sản.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lê Đắc K2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm với số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002487 ngày 22/9/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8-Hải Phòng.
Ông Lê Đắc K và bà Lê Thị S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm với số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0002704 ngày 29/9/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8-Hải Phòng.
- Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Minh Tân |
Bản án số 173/2025/DS-PT ngày 24/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 173/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Diệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất ao
