Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 171/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 9 - 2025

V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Từ Thị Hải Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thanh; Bà Nguyễn Thị Hòe.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Giang – Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 184/2025/TLST ngày 24/6/2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung”; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2025/QĐ-ST ngày 18/8/2025, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1982. CCCD số 0441820100334, cấp ngày 27/12/2021.

Địa chỉ: Thôn X, xã T, tỉnh Quảng Trị. Có mặt

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983, CCCD số [...]

Nơi đăng ký cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn X, xã T, tỉnh Quảng Trị. Hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc (không rõ địa chỉ). Vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q tự nguyện yêu nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) vào ngày 24/9/2009. Sau kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau đến năm 2019, vợ chồng bàn bạc làm thủ tục cho anh đi lao động tại Hàn Quốc. Thời gian đầu vợ chồng có liên lạc, thăm hỏi động viên nhau trong cuộc sống. Đến năm 2021, anh Q không còn liên lạc với chị nữa. Mâu thuẫn đã trở nên trầm trong không thể hàn gắn được, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Uyển N, sinh ngày 03/02/2010; con Nguyễn Nhật M, sinh ngày 12/11/2018, hiện 02 con đang ở với chị L. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị L xin được nuôi con, việc anh Q có cấp dưỡng nuôi con hay không là tùy ở anh Q, chị hông có ý kiến.

Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn Q không có văn bản gửi ý kiến về việc chị L khởi kiện ly hôn.

Ngày 18/8/2025, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai đối với ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1957 – Địa chỉ: Thôn X, xã T, tỉnh Quảng Trị là bố đẻ của anh Nguyễn Văn Q. Ông L1 trình bày: Anh Nguyễn Văn Q là con trai của ông, có vợ là Phạm Thị L. Anh Q đi làm ăn tại Hàn Quốc được khoảng 4 năm, thỉnh thoảng anh Q có gọi điện về thăm hỏi gia đình. Ông đã thông báo cho anh Q biết việc chị Phạm Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, anh Q nói với ông nếu chị L muốn ly hôn thì anh Q cũng đồng ý. Về con chung ông L1 xác định vợ chồng L, Q có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Uyển N, sinh ngày 03/02/2010 và Nguyễn Nhật M, sinh ngày 12/11/2018, hiện 02 con đang ở với chị L. Việc giao con cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp vì hiện tại anh Q đang ở Hàn Quốc không có điều kiện để chăm sóc con. Về cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung tùy anh Q, chị L bàn bạc, ông không có ý kiến.. Việc kết hôn, ly hôn là quyền của mỗi người nên chị L yêu cầu giải quyết ly hôn, anh Q cũng đã đồng ý nên đề nghị Tòa án sớm giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Phạm Thị L giữ nguyên quan điểm xin ly hôn và nuôi con. Chị yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227; điểm b khoản 5 Điều 477 BLTTDS, các Điều 51, 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q được ly hôn. Về quan hệ con chung: Giao 02 cháu Uyển N và Nhật M cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con chấp nhận mức cấp dưỡng theo chị L đề xuất tại phiên tòa. Về tài sản chung: Chị lan không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn thì bị đơn là anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983 - Nơi đăng ký cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn X, xã T, tỉnh Quảng Trị, hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc (không rõ địa chỉ); tại công văn số 1369/CV-QLXNC ngày 23/9/2025 của Phòng quản lý Xuất nhập cảnh Công an tỉnh Q cung cấp thông tin: Anh Nguyễn Văn Q, sinh ngày 04/8/1983 – số CCCD: [...] đã xuất cảnh nhiều lần, lần gần nhất vào ngày 23/10/2019 hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy có căn cứ xác định hiện tại bị đơn anh Nguyễn Văn Q đang sinh sống ở nước ngoài nên căn cứ khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37 Điều 476 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình (nay là TAND tỉnh Quảng Trị).

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành các phương thức tống đạt theo quy định. Các ngày 18,19, 20/8/2025, Tòa án đã tiến hành đăng tin trên kênh V (kênh dành cho người nước ngoài) để đăng tin về việc giải quyết vụ án. Tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Văn Q vẫn vắng mặt lần 2 không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Q là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc được với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyễn nhân do từ sau khi sang Hàn Quốc được hai năm, anh Q không còn liên lạc, quan tâm đến chị L và các con. Chị L trình bày tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện chị L, xử cho chị Phạm Thị L ly hôn anh Nguyễn Văn Q là phù hợp.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Uyển N, sinh ngày 03/02/2010; con Nguyễn Nhật M, sinh ngày 12/11/2018, hiện 02 con đang ở với chị L. Xét thấy hiện tại anh Q đang ở Hàn Quốc không thể trực tiếp chăm sóc các con được, cháu Uyển N sinh năm 2010 lại cháu bị khuyết tật. Vì vậy cần giao 02 con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, anh chị có cháu đầu là Nguyễn Thị Uyển N bị khuyết tật. Xét thấy mức cấp dưỡng con chung theo đề nghị của chị L là phù hợp, cần buộc anh Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng đến khi các con đủ 18 tuổi có khả năng tự nuôi sống bản thân.

[2.3]. Về quan hệ tài sản chung: Chị L không yêu cầu nên không xem xét.

[3]. Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã đăng V chi phí hết 2.250.000 đồng, cần buộc L phải chịu khoản chi phí này.

[4].Về án phí, lệ phí ủy thác tư pháp: Căn cứ Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Nguyên đơn chị Phạm Thị L phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo luật định. Anh Nguyễn Văn Q phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

[5.] Q1 kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 227; Điều 37; Điều 235; điểm b khoản 5 Điều 477; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị L, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân, xử cho chị Phạm Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.
  2. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Thị Uyển N, sinh ngày 03/02/2010; con Nguyễn Nhật M, sinh ngày 12/11/2018, cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn Q cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ tháng 10/2025 đến khi các con tròn 18 tuổi, đủ khả năng nuôi sống bản thân. Không ai được quyền cản trở việc anh Q qua lại thăm con chung.
  3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L2 phải chịu 2.250.000đồng tiền chi tố tụng. Chị L2 đã nộp đủ.
  4. Về án phí, lệ phí Toà án: Nguyên đơn chị Phạm Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí lệ phí sơ thẩm bà đã nộp tại biên lai số: 0005487 ngày 24/6/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (nay là Thi hành án Dân sự tỉnh Q). Anh Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phạm Thị L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Văn Q có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Trị (P9);
  • - Thi hành án DS tỉnh Quảng Trị;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Tuyên Bình, tỉnh Quảng Trị;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

đã ký

Từ Thị Hải Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 171/2025/HNGĐ-ST ngày 26/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 171/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger