Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16 - 12 - 2025

V/v Ly hôn

 


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khải Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

Bà Trương Thị Ngọc .

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Lê Thanh Trà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 tháng 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 116/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/12/2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1978 (Có mặt).
  • Bị đơn: Ông Phạm Â, sinh năm: 1968 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã M, tỉnh Khánh Hòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 10 năm 2025 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là bà Lê Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm  đăng ký kết hôn với nhau năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã M, tỉnh Khánh Hòa). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn P, xã M, tỉnh Khánh Hòa. Sau một thời gian chung sống, do tính tình không hợp nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã kéo dài. Hiện tại, vợ chồng bà vẫn còn sống chung nhưng không ai quan tâm đến ai, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Ân .

- Về con chung: Vợ chồng bà có 03 người con chung, gồm: Phạm Thị B, sinh ngày: 06/12/1996; Phạm Văn N, sinh ngày: 02/8/1998; Phạm H1, sinh ngày: 01/02/2001. Các con đã trưởng thành, lao động tự túc được nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Phạm  trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị H đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã M, tỉnh Khánh Hòa). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại thôn P, xã M. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân tương đối hạnh phúc, trong quá trình chung sống, do bà H nghe theo lời xúi giục của người khác nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện tại, vợ chồng ông tuy vẫn còn sống chung nhưng không ai quan tâm chăm sóc đến ai. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, vì ông cho rằng mâu thuẫn nhỏ nhặt nên ông có thể hàn gắn được để tiếp tục xây dựng cuộc sống hôn nhân hạnh phúc.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung, gồm: Phạm Thị B, sinh ngày: 06/12/1996; Phạm Văn N, sinh ngày: 02/8/1998; Phạm H1, sinh ngày: 01/02/2001. Các con đã trưởng thành, lao động tự túc được nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:

Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án:

Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông  đã mâu thuẫn trầm trọng. Yêu cầu xin ly hôn của bà H là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

- Về con chung: Bà H và ông  không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông  không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét trong vụ án này.

- Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Bà Lê Thị H khởi kiện xin ly hôn ông Phạm Ân . Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định: Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn là ông Phạm  có hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã M, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Khánh Hòa.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Lê Thị H và ông Phạm  đăng ký kết hôn ngày 25/6/2007, tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã M, tỉnh Khánh Hòa) trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Quan hệ hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp.

Theo Biên bản xác minh ngày 17/11/2025 (BL 29) và lời trình bày của bà H và ông  tại phiên tòa thì bà H và ông  không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn. Do đó, bà H yêu cầu ly hôn ông  là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị H.

[2.2] Về con chung: Bà H và ông  có 03 người con chung, tên: Phạm Thị B, sinh ngày: 06/12/1996; Phạm Văn N, sinh ngày: 02/8/1998; Phạm H1, sinh ngày: 01/02/2001. Các con đã trưởng thành, lao động tự túc được nên bà H và ông  không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H và ông  không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H. Bà Lê Thị H được ly hôn ông Phạm Ân .
  2. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003120 ngày 29/10/2025 của Thi hành dân sự tỉnh Khánh Hòa.
  3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, bà H và ông  có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND khu vực 7 - Khánh Hòa;
  • - Phòng THADS khu vực 7 - Khánh Hòa;
  • - UBND xã Mỹ Sơn, tỉnh Khánh Hòa;
  • - Lưu: AV, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khải Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 17/2025/HNGĐ-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 17/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Lê Thị H và ông Phạm Â
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger