Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2025/HS-ST
Ngày 10-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tẩn A Sếnh;
  2. Ông Đèo Văn Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Lò Trí Siêu - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS, ngày 07 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Sùng A T, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 01/01/1964, tại tỉnh Lai Châu; số CCCD: [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản K, xã D, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Sùng A S, đã chết; mẹ đẻ: Ma Thị V, đã chết; gia đình bị cáo có 07 anh em, bị cáo là con thứ 07; Bị cáo chung sống như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) với Ngải Thị S1, sinh năm 1958 và có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/7/2025 đến ngày 26/7/2025, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

Vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ, ngày 17/7/2025, Sùng A T đi bộ từ nhà đến chợ D để tìm mua Heroine sử dụng. Đến chợ D, T mua được 01 gói Heroine giá 150.000 đồng, của một người đàn ông không rõ lai lịch. Mua được H1, T giấu vào túi quần đang mặc trên người rồi đi về. Trên đường về, T hỏi xin đi nhờ xe của một người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ. Hồi 22 giờ 00 phút, ngày 17/7/2025, khi người đàn ông chở T đi đến bản K, xã D thì bị phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh L bắt quả tang. Đối với người đàn ông cho T đi nhờ xe do không Công an khống chế được nên đã bỏ chạy. Vật chứng đã thu giữ của Sùng A T là 01 gói chất bột màu trắng, được gói ngoài bằng 01 mảnh nilon màu xanh và 01 mảnh nilon màu đen. T khai nhận chất bột màu trắng là Heroine do T mua về để sử dụng.

Bản Kết luận giám định số: 587/KL-KTHS, ngày 20/7/2025, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Sùng A T có khối lượng 0,33 gam, là ma túy, loại: Heroine.

Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSKV3, ngày 05 tháng 11 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố bị cáo Sùng A T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Sùng A T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025, xử phạt bị cáo Sùng A T từ 03 (Ba) năm, 03 (Ba) tháng đến 03 (Ba) năm, 07 (Bảy) tháng tù, bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các mảnh nilon và vỏ phong bì niêm phong. Đối với 0,33 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo. Tranh luận với quan điểm đề nghị của người bào chữa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo đồng quan điểm với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và về phần xử lý vật chứng, án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện về nhân thân, điều kiện sống, nguyên nhân phạm tội của bị cáo, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình, xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Sùng A T đã thực hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 22 giờ, ngày 17/7/2025, tại đoạn đường thuộc bản K, xã D, tỉnh Lai Châu, tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh L bắt quả tang Sùng A T đang tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,33 gam. T khai nhận, số H do T bị thu giữ do T cất giấu để sử dụng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025. Cáo trạng số: 14/CT-VKSKV3, ngày 05/11/2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo và người đàn ông cho bị cáo đi nhờ xe, bị cáo đều không biết rõ nhân thân, lai lịch cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh, xử lý trong vụ án này.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra tiến hành test ma túy đối với bị cáo. Kết quả bị cáo dương tính với ma túy. Tuy nhiên, qua xác minh tại nơi bị cáo cư trú, bị cáo không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a của Bộ luật Hình sự nên bị cáo không phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, cần phải xử phạt nghiêm minh bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, đồng thời để đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Đề nghị của người bào chữa về xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý: Các mảnh nilon, vỏ phong bì niêm phong vật chứng, là công cụ dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,33 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí nên cần miễn án phí cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố:

  1. Bị cáo Sùng A T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Sùng A T: 03 (Ba) năm, 06 (Sáu) tháng tù.

Khấu trừ thời gian tạm giữ 09 ngày, bị cáo còn phải chấp hành: 03 (Ba) năm, 05 (Năm) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày tù.

Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  1. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh nilon màu đen; vỏ niêm phong.

(Vật chứng hiện đang được lưu tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số B, lập hồi 16 giờ 10, phút, ngày 17/11/2025, tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Lai Châu).

  1. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

- VKSND khu vực 3 - Lai Châu;

- CA tỉnh Lai Châu (CQĐT, THAHS,

phân trại tạm giam Phong Thổ);

- Phòng THADS khu vực 3 - Lai Châu;

- Bị cáo;

- Người bào chữa;

- Lưu: HS.

Đỗ Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo tàng trữ tpcmt
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger