|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2026/DS-PT
Ngày: 09/01/2026
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Thủy
Ông Trần Nam Trung
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Bùi Trung Nam - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09/01/2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 405/2025/TLPT-DS ngày 14/11/2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Cần Thơ có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 773/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Trần Văn Q, sinh năm 1989.
2. Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm: 1988.
Cùng cư trú: ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: ông Huỳnh Hà Quốc B, sinh năm: 1984; địa chỉ liên hệ: ấp C, xã V, TP . (có mặt).
- Bị đơn:
Ông Phạm Văn Đ, sinh năm: 1990. Cư trú: ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Huyền T.
NỘI DUNG VỤ KIỆN:
Nguyên đơn ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị Huyền T trình bày:
Từ tháng 02 năm 2019, vợ chồng ông Q và bà T có cho ông Phạm Văn Đ vay số tiền là 90.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận miệng là 2%/tháng trong vòng một tháng thì ông Đ sẽ hoàn trả lại số tiền gốc và lãi lại cho vợ chồng ông bà. Việc giao tiền giữa các bên được thực hiện trực tiếp, không có làm biên nhận. Tuy nhiên, kể từ sau khi vay mượn đến thời hạn thanh toán, vợ chồng ông Q đã nhiều lần yêu cầu ông Đ phải có trách nhiệm thanh toán lại số tiền trên, lúc đầu ông Đ xin khất và hẹn sẽ cố gắng thu xếp để hoàn trả nhưng sau nhiều lần hứa hẹn ông Đ vẫn không trả, sau đó ông Đ cố tình không thừa nhận nợ, trốn tránh không chịu trả và còn có thái độ thách thức, gây sự với gia đình ông Q.
Nay nguyên đơn yêu cầu ông Đ trả số tiền nợ gốc là 90.000.000 đồng và số tiền lãi suất là 0,83%/tháng tính từ ngày vay mượn tháng 2/2019 đến thời điểm đưa vụ án ra xét xử tháng 7/2025 là 65 tháng tương đương số tiền lãi là 48.555.000 đồng. Như vậy nguyên đơn buộc bị đơn trả tổng số tiền là 138.555.000 đồng.
Bị đơn ông Phạm Văn Đ trình bày: Ông Đ thừa nhận có nhận từ bà T khoảng hơn 02 chỉ vàng (không nhớ loại vàng gì và cũng không nhớ chính xác ngày, tháng chỉ nhớ khoảng đầu năm 2021. Sau khi nhận vàng đem bán được 11.000.000 đồng, số tiền này ông Đ dùng sử dụng chung với bà T vào việc tiêu xài cá nhân. Bởi giữa ông Đ với bà T trước đó có quan hệ tình cảm với nhau kéo dài nhiều năm. Khi nhận vàng chỉ có ông Đ và bà T, hai bên không có làm biên nhận. Việc vợ chồng ông Q, bà T nói ông Đ vay số tiền 90.000.000 đồng trực tiếp từ ông Q là hoàn toàn không đúng sự thật.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền như trên thì ông Đ không đồng ý. Ông Đ đồng ý trả lại giá trị vàng vào thời điểm bà T đưa bán được số tiền 11.0000.000 đồng dùng vào việc tiêu xài cá nhân chung và chịu khoản lãi chậm trả theo lãi suất Nhà nước quy định từ thời điểm năm 2021 cho đến nay.
Do không hòa giải thường lượng được nên vụ kiện được đưa ra xét xử.
Tại Bản án số 41/2025/DSST ngày 30/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ đã tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị Huyền T đối với bị đơn ông Phạm Văn Đ.
Buộc bị đơn ông Phạm Văn Đ có nghĩa vụ trả tiền vay mượn cho nguyên đơn ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị Huyền T với tổng số tiền là 16.021.500 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Phạm Văn Đ nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 801.075 đồng. Nguyên đơn ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.950.000 đồng, khấu trừ số tiền nguyên đơn đã nộp 2.925.000 đồng theo biên lai thu số 0008825 ngày 11/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Nguyên đơn còn phải nộp thêm số tiền 1.025.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân khu vực 11- Cần Thơ tuyên xử. Bà Nguyễn Thị Huyền T đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện ủy quyền nguyên đơn ông Huỳnh Hà Quốc B trình bày: Tại cơ quan điều tra thì phía bị đơn ông Đ thừa nhận có nợ nguyên đơn số tiền là 90.000.000 đồng. Bị đơn cho rằng bị ép cung nên mới thừa nhận là không có căn cứ. Bị đơn không chứng minh mình bị ai ép cung hay nhục hình. Tại file ghi âm thì bị đơn thừa nhận có nợ tiền nguyên đơn gần cả trăm triệu đồng. Số tiền bị đơn nợ tiền nguyên đơn là bị đơn sử dụng vào việc nuôi lươn. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải trả 90.000.000 đồng và tiền lãi 71 tháng lãi suất 0,83%/ tháng = 53.037.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 143.037.000 đồng.
Phía bị đơn trình bày: Bị đơn không có vay tiền của nguyên đơn. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra, bị đơn bị cán bộ trại giam kêu thừa nhận số tiền 90.000.000 đồng của bà T thì bà T làm đơn bãi nại trong vụ án hình sự. Vì vậy, ông thừa nhận nhưng sau đó bà T không bãi nại nên các biên bản lấy khai sau ông không thừa nhận. Tuy nhiên, ông Đ cho rằng bà T có đưa cho ông 02 chỉ vàng để bán được số tiền 11.000.000 đồng. Ông đồng ý trả số tiền này và tiền lãi như bản án sơ thẩm đã tuyên. Ông không đồng ý trả 90.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn cho rằng có cho bị đơn vay tiền 90.000.000 đồng nhưng nguyên đơn không xuất trình được biên nhận vay nên về mặt chứng cứ là không có chứng cứ chứng minh. Đối với file ghi âm thì không thể hiện ai nợ tiền ai, không rõ ngày tháng, năm ghi âm, địa điểm ghi âm, số tiền nợ không nêu cụ thể. Vì vậy, file ghi âm do bà T cung cấp không được xem là chứng cứ. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Cần Thơ đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Tòa án nhân dân khu vực 11- Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền là hợp lệ và đúng.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy: Nguyên đơn kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền còn thiếu là 90.000.000 đồng do bị đơn vay. Nguyên đơn không cung cấp được biên nhận. Nguyên đơn cung cấp được file ghi âm cho rằng cuộc đối thoại giữa bà T và ông Đ. Nội dung cuộc nói chuyện giữa bà T với ông Đ có đoạn “...có thiếu gần cả trăm triệu không”...“có...”. Nguyên đơn căn cứ vào chứng cứ này và lời khai của ông Q tại cơ quan điều tra nên bà T kiện yêu cầu ông Đ trả 90.000.000 đồng và tiền lãi.
Bị đơn không thừa nhận đã vay số tiền trên. Bị đơn thừa nhận trước đây khi giữa bị đơn và bà T có nảy sinh tình cảm nên bà T có đưa cho ông 0 chỉ vàng đem bán được số tiền 11.000.000 đồng vào thời điểm năm 2021-2022 nên chỉ đồng ý trả số tiền 11.000.000 đồng và tiền lãi.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Giữa ông Đ và bà T theo trình bày của ông Đ có phát sinh tình cảm (chứng minh tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang) nên bà T đưa vàng cho ông Đ bán tiêu xài chung như lời ông Đ trình bày nên không làm biên nhận, không ai chứng kiến. Ông Đ thừa nhận có nhận vàng từ bà T là 02 chỉ vàng, sau đó ông Đ bán được 11.000.000 đồng. Trong hồ sơ tại cơ quan điều tra mà Tòa án thu thập được chỉ có duy nhất một lời khai ông Đ thừa nhận có nợ số tiền vợ chồng bà T là 90.000.000 đồng, nhưng những lời khai sau ông Đ không thừa nhận. Ông Đ cho rằng “Tại cơ quan điều tra có cán bộ điều tra hướng dẫn khai nên thừa nhận số tiền nợ 90.000.000 đồng thì sẽ được bà T bãi nại không yêu cầu khởi tố hoặc xin giảm nhẹ hình phạt” nên từ đó ông Đ mới thừa nhận, nhưng sau đó bà T không bãi nại nên ông Đ không thừa nhận, nên lời nại này là phù hợp với tính logic của diễn biến sự việc.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Nguyên đơn cho rằng có cho bị đơn vay tiền 90.000.000 đồng nhưng không có biên nhận. Nên xét về chứng cứ nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh. Giả sử nếu có việc cho vay mượn hay không thì chính bà T với ông Đ, không có việc ông Q cho vay mượn (vì thời điểm này giữa hai người đang phát sinh tình cảm nên không bắt buộc phải viết biên nhận). Hơn nữa, Tại bản án hình sự sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa hình sự sơ thẩm số 21/2024/HS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thì ông Đ hoàn toàn không thừa nhận có nợ số tiền 90.000.000 đồng. Lời khai của nguyên đơn trong hồ sơ trước, sau có sự mâu thuẫn, không trung thực trong lời khai.
Xét file ghi âm: File này do bà T ghi âm nhưng không thể hiện ngày, tháng, năm ghi âm. Địa điểm ghi âm không rõ ràng. Không thể hiện cụ thể ai nợ tiền ai và số tiền cụ thể...nên không xem xét đây là chứng cứ hợp pháp.
Do nguyên đơn khởi kiện không có chứng cứ chứng minh, căn cứ vào lời khai nhưng cả nguyên đơn và bị đơn lời khai có sự mâu thuẫn. Tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Từ những nhận định đánh giá chứng cứ như trên Hội đồng xét xử sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện theo số tiền gốc do bị đơn thừa nhận là 11.000.000 đồng và tiền lãi là có căn cứ.
[3]. Do các đương sự chỉ tranh chấp về số tiền vay (nguyên đơn yêu cầu trả tiền gốc 90.000.000 đồng) bị đơn không thừa nhận có vay tiền mà chỉ thừa nhận có nhận khoảng hơn 02 chỉ vàng đem đi bán tại thời điểm được số tiền là 11.000.000 đồng. Vì vậy, buộc bị đơn trả 11.000.000 đồng cùng tiền lãi là phù hợp.
[4]. Xét tiền lãi: Bị đơn thừa nhận khoảng đầu năm 2021, không nhớ chính xác) nên Hội đồng xét xử tính từ thời điểm vay là tháng 01/2021 đến thời điểm xét xử là tháng 07/2025 tương đương 55 tháng được tính như sau: 11.000.000 đồng x 0,83% x 55 tháng = 5.021.500 đồng. Bản án sơ thẩm tuyên là phù hợp nên giữ nguyên.
[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn: Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới. Biên nhận vay tiền không có. File ghi âm nội dung không cụ thể rõ ràng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền, không thừa nhận có cho vay vàng. Bị đơn thừa nhận có mượn 02 chỉ vàng bán ra tại thời điểm đó là 11.000.000 đồng. Bị đơn đồng ý trả tiền và lãi suất của số tiền 11.000.000 đồng. Do đó, buộc bị đơn trả tiền và tiền lãi như bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của nguyên đơn không có căn cứ nên không chấp nhận.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thực hiện nghĩa vụ là 16.021.500 x 5% = 801.075 đồng. Nguyên đơn phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nợ gốc không được chấp nhận 90.000.000 đồng – 11.000.000 đồng = 79.000.000 đồng x 5% = 3.950.000 đồng.
[7]. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn chịu 300.000 đồng.
[8]. Từ những phân tích nhận định như trên, xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Khoản 1, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng:
Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Huyền T. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
[1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn Q, Nguyễn Thị Huyền T đối với bị đơn Phạm Văn Đ.
Buộc bị đơn Phạm Văn Đ có nghĩa vụ trả tiền vay mượn cho nguyên đơn Trần Văn Q, Nguyễn Thị Huyền T với tổng số tiền là 16.021.500 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
[2]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Phạm Văn Đ nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 801.075 đồng. Nguyên đơn ông Trần Văn Q, bà Nguyễn Thị Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.950.000 đồng, khấu trừ số tiền nguyên đơn đã nộp 2.925.000 đồng theo biên lai thu số 0008825 ngày 11/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Nguyên đơn còn phải nộp thêm số tiền 1.025.000 đồng.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà T phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003232 ngày 17/9/2025 thành tiền án phí tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà T đã nộp đủ tiền.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Trần Nam Trung - Đào Thị Thủy
Nguyễn Văn Hải
Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 15/2026/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Văn Q kiện ông Phạm Văn Đ đòi trả tiền nợ.
