Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1473/2025/DS-PT

Ngày: 25/11/2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Tú Oanh
Bà Nguyễn Thị Kim Cương

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2025 và ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 828/DSPT ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 2035/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5), Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6064/QĐXXPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa sô 19896/2025/QĐPT-DS ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (Tên viết tắt: MB). Mã số doanh nghiệp: 0100283873.

Trụ sở: A L, phường T, quận C (nay là 18 L, phường Y), Thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1990, CCCD số: [...], địa chỉ: Lầu E, số E C, Phường A, Quận C, (nay là Lầu E, số E C, phường N), Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền số 414/UQ-MBAMC ngày 07/4/2023 của Công ty Q1 nợ và khai thác tài sản Ngân hành TMCP Quân đội; Hợp đồng ủy quyền số 154/UQ.MB-MBAMC ngày 18/03/2021 của Ngân hàng TMCP Q). (có mặt)

2. Bị đơn:

2.1. Ông Lâm Phước H, sinh năm 1988, (vắng mặt)

Chứng minh nhân dân số: [...] (Hộ chiếu: B9741664).

Địa chỉ: A Đ, Phường C, quận B, (nay là A L, phường G), Thành phố Hồ Chí Minh.

2.2. Bà Phạm Thị Ngọc D, sinh năm 1984, (vắng mặt)

Căn cước công dân số: [...].

Thường trú: 81/1/14 T, Tổ A Khu phố G, phường B, quận B, (nay là 84/1/14 T, Tổ A Khu phố G, phường B), Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm:

* Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có ông Nguyễn Văn T là đại diện trình bày:

Ngày 07/7/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q ký Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.8632004.TD với ông Lâm Phước H và bà Phạm Thị Ngọc D với số tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng), mục đích thanh toán tiền mua bất động sản thửa 1654 Tờ bản đồ số 9 tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, lãi suất thỏa thuận được ghi nhận tại khế ước nhận nợ, tài sản bảo đảm là tài sản vay tiền để thanh toán. Theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số LTI21176000094.ST01/LD2121097553 ngày 29/7/2021, ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D đề nghị giải ngân 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng) theo phương thức chuyển khoản, thời hạn vay từ ngày 29/7/2021 đến ngày 29/7/2024, thanh toán vào

ngày 05 hàng tháng, lãi suất cho vay 10,9%/năm (Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là 29/10/2021. Các ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là các ngày 29/01, 29/04, 29/7, 29/10 hàng năm và lãi suất thả nổi được xác định bằng lãi suất tham chiếu VND thời hạn khoản vay > 12 tháng đối với khách hàng cá nhân do MB công bố/thông báo có hiệu lực tại ngày điều chỉnh lãi suất cộng với biên độ lãi suất 4,1%/năm.

Ngày 18/10/2021, M và ông H, bà D ký Hợp đồng thế chấp số 186291.21.221.8632004.BĐ và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Tuy nhiên, ông H bà D vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận mặc dù MB đã nhắc nhở nhiều lần.

Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khởi kiện ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D yêu cầu thanh toán số tiền còn thiếu tổng cộng tạm tính đến ngày 06/4/2023 là 4.570.169.479 đồng, trong đó tiền gốc là 3.866.666.664 đồng, tiền lãi là 703.502.815 đồng và tiền lãi tiếp tục phát sinh trên số tiền gốc quá hạn theo lãi suất thỏa thuận từ ngày 07/4/2023 cho đến khi thanh toán xong. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông H, bà D không thanh toán toàn bộ khoản nợ thì MB có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận số CI804229 (số vào sổ: CH13904) do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 16/6/2017, cập nhật chủ sở hữu ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D ngày 15/10/2021.

* Bị đơn ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D:

Ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, triệu tập để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 29/7/2024 nhưng ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D không đến làm việc và cũng không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D.

Do bị đơn vắng mặt, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau nên Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 2035/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5) Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm h Khoản 1 Điều 40, Điều 63, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 292, Điều 295, Điều 298, Điều 318, Điều 320, Điều 322 và Điều 404, Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13, Điều 91 Luật

Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017) và Điều 210 Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024; Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D về việc thanh toán tiền gốc là 33.333.334 đồng và tiền lãi trong hạn chậm trả là 1.685.913 đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

2.1. Buộc ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D thanh toán làm một lần, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền còn thiếu của Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.8632004.TD ngày 07/07/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là 5.702.459.913 đồng (Năm tỷ bảy trăm lẻ hai triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn chín trăm mười ba đồng), trong đó tiền gốc là 3.849.999.997 đồng (Ba tỷ tám trăm bốn mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng), tiền lãi trong hạn chậm trả là 304.537.614 đồng (Ba trăm lẻ bốn triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn sáu trăm mười bốn đồng), tiền lãi quá hạn là 1.474.066.906 đồng, (Một tỷ bốn trăm bảy mươi bốn triệu sáu mươi sáu nghìn chín trăm lẻ chín đồng) tiền phạt chậm trả 73.855.396 đồng (Bảy mươi ba triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền gốc, tiền lãi trong hạn chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

2.2. Trong trường hợp ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ của Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.8632004.TD ngày 07/07/2021, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1654 Tờ bàn đồ số 9, diện tích 143,4m², toạ lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI804229, số vào sổ cấp GCN: CH13904

ngày 16/6/2017, cập nhật chuyển nhượng cho ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D ngày 15/10/2021,

2.3. Buộc ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

3. Án phí sơ thẩm:

3.1. Ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D phải chịu án phí sơ thẩm giải quyết tranh chấp về dân sự là 113.702.000 đồng (Một trăm mười ba triệu bảy trăm lẻ hai nghìn đồng).

3.2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải chịu án phí sơ thẩm giải quyết tranh chấp về dân sự là 1.751.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng) được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.285.000 đồng theo Biên lai số 0027993 ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. H1 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tạm ứng án phí còn lại là 54.534.000 đồng (Năm mươi bốn triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai nói trên.

-Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền thi hành bản án theo quy định pháp luật.

Sau khi Bản án sơ thẩm đã tuyên, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) kháng cáo, yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bên phía bị đơn ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D còn phải trả thêm số tiền vốn là 33.333.334 đồng và tiền lãi trong hạn chậm trả là 1.685.913 đồng. Ngoài kháng cáo này, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác. Đề nghị giữ y các phần khác của bản án sơ thẩm.

*Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) kháng cáo, người đại diện cho nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm như sau: Buộc bên phía bị đơn ông H, bà D còn phải trả thêm số tiền vốn là 33.333.334 đồng và tiền lãi trong hạn chậm trả là 1.685.913 đồng. Các phần khác của bản án sơ thẩm giữ nguyên, không có kháng cáo.

-Bị đơn không kháng cáo. Bị đơn vắng mặt suốt quá trình tố tụng tại tòa án cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm.

*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định pháp luật. Các đương sự thực hiện các quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 2035/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5), Thành phố Hồ Chí Minh

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) thực hiện đảm bảo về thời hạn, đúng thủ tục kháng cáo theo quy định tại Điều 273, 276 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Đương sự bị đơn vắng mặt, Tòa án tống đạt các văn bản đúng quy định pháp luật, căn cứ theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và tư cách tham gia tố tụng của đương sự được Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quy định.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo: Xem xét yêu cầu kháng cáo, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đối chiếu với toàn bộ chứng cứ, lời trình bày tại phiên tòa phúc thẩm.

Xét thấy:

[2.1] Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) kháng cáo một phần của bản án sơ thẩm, yêu cầu phía bị đơn ông H, bà D còn phải trả thêm số tiền vốn là 33.333.334 đồng và tiền lãi trong hạn chậm trả là 1.685.913 đồng. Các phần khác của bản án sơ thẩm giữ nguyên, không có kháng cáo. Lý do kháng cáo vì Tòa án cấp sơ thẩm tính chưa đúng với thời gian mà ngân hàng tiến hành cơ cấu lại thời hạn trả nợ của bị đơn. Kèm theo lời trình bày, người đại diện nộp bản tự khai để trình bày về số tiền kháng cáo nêu trên với nội dung như sau:

-“Căn cứ theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.86320004.TD ngày 7/7/2021; Khế ước nhận nợ kèm theo và Thông báo phê duyệt số LTI21284000439/TBPD-KHCN ngày 13/10/2021 về việc phê duyệt phương án cơ cấu lại thời hạn trả nợ chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19 đối với khách hàng Lâm Phước H. Cụ thể: Gốc cơ cấu nêu trên được trả tại kỳ tháng 4/2022; Lãi cơ cấu nêu trên được trả từ kỳ tháng 4/2022 đến kỳ tháng 9/2022. Tuy nhiên, khi được cơ cấu khách hàng đã không thực hiện việc thanh toán nợ.

Căn cứ theo mục 9.7 của Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.86320004.TD ngày 7/7/2021 và quy định tại Khoản 4 Điều 18 Thông tư 39/2016.

Điều 9.7 của Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.86320004.TD ngày 7/7/2021 “MB được quyền quyết định thứ tự thu các khoản nợ như sau:

(i) Khoản nợ trong hạn: Phí; nợ lãi; nợ gốc; các khoản phải trả khác (nếu có).

(ii): Khoản nợ quá hạn: Nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả, phí, các khoản phí phải trả khác (nếu có).”

“Điều 18. Trả nợ gốc và lãi tiền vay

4. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về thứ tự thu nợ gốc, lãi tiền vay. Đối với khoản nợ vay bị quá hạn trả nợ, tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự nợ gốc thu trước, nợ lãi tiền vay thu sau."

Căn cứ vào việc xác định ngày quá hạn của ông Lâm Phước H và bà Phạm Thị Ngọc D, ngày bắt đầu quá hạn là ngày 07/06/2022. Theo đó:

Việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) thu nợ trước ngày 7/6/2022 là đúng quy định tại Khoản 4 Điều 18 Thông tư 39/2016 và thực hiện đúng theo thỏa thuận tại mục i Điều 9.7 của Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.86320004.TD ngày 7/7/2021: Ngân hàng TMCP Q tiến hành thu nợ theo thứ tự: (i) Khoản nợ trong hạn: Phí; nợ lãi; nợ gốc; các khoản phải trả khác (nếu có).

Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) tính lãi và dư nợ tạm tính đến ngày 23/9/2024 của khách hàng ông Lâm Phước H và bà Phạm Thị Ngọc D như sau:

Về số nợ gốc:

Số tiền nợ gốc đã thanh toán từ ngày giải ngân 29/7/2021 đến ngày 06/06/2022 là 116.666.669 đồng;

Ngày 7/6/2022, Khách hàng đã chuyển nợ quá hạn nên từ ngày 7/6/2022 đến ngày 23/9/2024 thì nợ gốc của khách hàng là gốc quá hạn.

Số tiền nợ gốc quá hạn đã thanh toán là 0 đồng;

Tổng số tiền nợ gốc còn lại tính đến ngày 23/9/2024 là 3.883.333.331 đồng.

Về số nợ lãi:

Số tiền lãi trong hạn từ ngày giải ngân 29/7/2021 đến ngày 06/06/2022 là 465.091.798 đồng;

Số tiền lãi trong hạn khách hàng đã thanh toán từ ngày 29/7/2021 đến ngày 06/06/2022 là 158.868.271 đồng.

Số tiền lãi trong hạn còn phải thanh toán là: 465.091.798 đồng – 158.868.271 đồng = 306.223.527 đồng. (Do thanh toán thiếu tiền lãi nên khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ. Ngân hàng TMCP Q đã chuyển nợ quá hạn theo đúng Thỏa thuận tại điểm d Khoản 9.4 của Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.86320004.TD ngày 7/7/2021.)”.

[2.2]Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử yêu cầu nguyên đơn giải trình rõ về thời gian thực hiện trả nợ theo hợp đồng mà hai bên thỏa thuận và số tiền vốn mà bị đơn đã trả, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không giải trình mà xác định rằng, vì do ngân hàng C kéo dài thời gian trả nợ, nên tiền lãi phát sinh trong thời gian này bị đơn vẫn phải trả, ngân hàng không có miễn hoặc giảm lãi mà chỉ cho khách hàng kéo dài thời gian kỳ thanh toán, chính vì vậy nên toàn bộ số tiền trong tài khoản của ông H, bà D sẽ bị ngân hàng trừ hết vào tiền lãi.

-Qua xem xét, số tiền ông H và bà D đã thanh toán được cho ngân hàng, cụ thể:

  • + Ngày 06/9/2021: Thanh toán 994.600 đồng;
  • + Ngày 27/9/2021: Thanh toán 30 đồng;
  • + Ngày 05/10/2021: Thanh toán 64.000.000 đồng;
  • + Ngày 05/11/2021: Thanh toán 16.666.667 đồng;
  • + Ngày 06/12/2021: Thanh toán 333.352 đồng;
  • + Ngày 07/12/2021: Thanh toán 100.454 đồng;
  • + Ngày 09/12/2021: Thanh toán 16.256.926 đồng;
  • + Ngày 05/01/2022: Thanh toán 743.118 đồng;
  • + Ngày 06/01/2022: Thanh toán 03 đồng;
  • + Ngày 12/01/2022: Thanh toán 15.978.515 đồng;
  • + Ngày 07/02/2022: Thanh toán 1.021.516 đồng;
  • + Ngày 12/02/2022: Thanh toán 15.683.728 đồng;
  • + Ngày 05/03/2022: Thanh toán 1.316.363 đồng;
  • + Ngày 14/3/2022: Thanh toán 15.418.434 đồng;
  • + Ngày 13/4/2022: Thanh toán 89.221.234 đồng;
  • + Ngày 06/5/2022: Thanh toán 37.800.000 đồng

Tất cả số tiền này ngân hàng thừa nhận ông H bà D thanh toán bằng hình thức là ngân hàng trừ vào tài khoản của ông H, bà D khi tài khoản này có tiền.

Tổng cộng ngân hàng tự thu được là 275.534.940 đồng. Người đại diện của nguyên đơn thừa nhận toàn bộ số tiền này ngân hàng xác định là chỉ trả được vốn 116.666.669 đồng, còn lại ngân hàng tự trừ hết vào lãi. Tuy nhiên, người đại diện ngân hàng không giải trình được cách tính vốn, lãi bị đơn phải trả khi bị đơn vi phạm.

[2.3] Người đại diện của Ngân hàng thương mại cổ phần Q (M) cho rằng do ngân hàng có chủ trương cơ cấu lại số tiền vốn, lãi mà khách hàng đã vay do nằm trong đợt dịch bệnh covid, nên trường hợp của ông H, bà D ngân hàng cho cơ cấu lại thời hạn thanh toán đến ngày 06/7/2022. Trong khoảng thời gian này vẫn phải tính lãi, nghĩa là xem như ngân hàng chỉ đồng ý cho bị đơn kéo dài thời gian kỳ thanh toán chứ không miễn hoặc giảm lãi cho khách hàng. Vậy nên, bị đơn vẫn phải chịu lãi trong khoản thời gian cơ cấu này. Kèm theo, người đại diện của Ngân hàng có cung cấp bản phô-tô tờ “Thông báo số LT 121284000439/TBPD-KHCN ngày 13/10/2021" do Giám đốc phê duyệt tín dụng cấp I là Lê Thị Thúy H2 ký. Qua xem xét tài liệu này, xét thấy rằng đây là tờ phô-tô có nội dung về: “Thông báo số LT 121284000439/TBPD-KHCN ngày 13/10/2021”, đã được cung cấp tại Tòa án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử có yêu cầu cung cấp toàn bộ hồ sơ cơ cấu, có đóng dấu của ngân hàng trong đó có thể hiện cụ thể về cách trả vốn, cách tính lãi, thời hạn trả của bị đơn ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D, nhưng người đại diện không cung cấp được, nên không có căn cứ xem xét.

Mặt khác, trường hợp Ngân hàng có cơ cấu lại cách trả nợ cho khách hàng là ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D (bị đơn) thì bắt buộc phải thực hiện thông báo cho khách hàng ông H, bà D được biết, vì khi cơ cấu lại cách trả nợ cũng nghĩa là có sự thay đổi về sự thỏa thuận đối với “Hợp đồng vay” giữa các bên. Nên khách hàng là người vay phải biết được cách trả nợ, số lãi, cách tính lãi, thời hạn trả và họ có ý kiến đồng ý với cơ cấu (phương án trả nợ) đó hay không. Hơn nữa, tại mục (ii) của tờ phô-tô “Thông báo số LT 121284000439/TBPD-KHCN ngày 13/10/2021" do Giám đốc phê duyệt tín dụng cấp I là Lê Thị Thúy H2 ký nêu rất rõ “ĐVKD thu thập đầy đủ hồ sơ: đơn đề nghị cơ cấu đủ chữ ký khách hàng + toàn bộ hồ sơ chứng minh thay đổi nguồn thu nhập theo đúng quy định checklist theo hướng dẫn số 3873.TB-HS ngày 02/8/2021 ...” Như vậy, ngoài thông báo này còn có hồ sơ cơ cấu của ông H, bà D nhưng phía nguyên đơn không cung cấp. Ngoài ra, trong hồ sơ vụ án còn thể hiện tại đơn khởi kiện, các bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm phía nguyên đơn khai về số tiền vốn gốc mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lại không thống nhất, có sự khác nhau, dẫn đến cách tính lãi của ngân hàng cũng không chính xác. Hội đồng xét xử phúc thẩm có yêu cầu phía nguyên đơn giải trình nhưng người đại diện của ngân hàng không giải thích được.

Từ đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã kiểm tra, đối chiếu và tính toán lại toàn bộ về vốn đã trả, cách lãi của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng quy định, đúng sự thỏa thuận của hai bên, đã đảm bảo quyền lợi của cả hai bên đương sự, nên Tòa án cấp phúc thẩm không có căn cứ sửa bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm,

phía nguyên đơn chỉ trình bày kháng cáo yêu cầu bị đơn trả thêm số tiền vốn là 33.333.334 đồng và tiền lãi trong hạn chậm trả là 1.685.913 đồng nhưng nguyên đơn không giải trình được về tiền vốn, tiền lãi, không đưa ra số liệu đối chiếu, cũng không tính toán lại một cách phù hợp số liệu khi kháng cáo, để có căn cứ xem xét, chấp nhận. Ngoài bản tự khai đã nộp, nguyên đơn kháng cáo còn xuất trình tại phiên tòa phúc thẩm tài liệu có ghi các số liệu, tuy nhiên chữ viết, con số quá nhỏ, bản thân đương sự tại phiên tòa cũng không đọc được, không giải trình được, nên Hội đồng xét xử không xem xét chấp nhận.

Do đó, từ những nhận định trên bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

[2.4] Các phần khác của bản án sơ thẩm nguyên đơn không có kháng cáo đề nghị giữ nguyên, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cùng quan điểm với Hội đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn kháng cáo nhưng bị bác yêu cầu nên phải chịu là 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 2035/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5), Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q đối với ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D về việc thanh toán tiền gốc là 33.333.334 đồng và tiền lãi trong hạn chậm trả là 1.685.913 đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q.

2.1. Buộc ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D thanh toán làm một lần, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền còn thiếu của Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.8632004.TD ngày 07/07/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là 5.702.459.913 đồng (Năm tỷ bảy trăm lẻ hai triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn chín trăm mười ba đồng), trong đó tiền gốc là 3.849.999.997 đồng (Ba tỷ tám trăm bốn mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng), tiền lãi trong hạn chậm trả là 304.537.614 đồng (Ba trăm lẻ bốn triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn sáu trăm mười bốn đồng), tiền lãi quá hạn là 1.474.066.906 đồng, (Một tỷ bốn trăm bảy mươi bốn triệu sáu mươi sáu nghìn chín trăm lẻ chín đồng) tiền phạt chậm trả 73.855.396 đồng (Bảy mươi ba triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn ba trăm chín mươi sáu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền gốc, tiền lãi trong hạn chậm trả theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi thanh toán xong.

2.2. Trong trường hợp ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ của Hợp đồng cho vay số 124585.21.221.8632004.TD ngày 07/07/2021, thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1654 Tờ bàn đồ số 9, diện tích 143,4m², toạ lạc tại phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI804229, số vào sổ cấp GCN: CH13904 ngày 16/6/2017, cập nhật chuyển nhượng cho ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D ngày 15/10/2021,

2.3. Buộc ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

3. Án phí sơ thẩm:

3.1. Ông Lâm Phước H, bà Phạm Thị Ngọc D phải chịu án phí sơ thẩm giải quyết tranh chấp về dân sự là 113.702.000 đồng (Một trăm mười ba triệu bảy trăm lẻ hai nghìn đồng).

3.2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải chịu án phí sơ thẩm giải quyết tranh chấp về dân sự là 1.751.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi mốt nghìn đồng) được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.285.000 đồng theo Biên lai số 0027993 ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. H1 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số

tiền tạm ứng án phí còn lại là 54.534.000 đồng (Năm mươi bốn triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai nói trên.

4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải chịu là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng số 0029244 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 Thành phố Hồ Chí Minh)

5. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - VKSND tối cao;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND khu vực 5, TP HCM;
  • - Phòng THADS khu vực 5, TP HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1473/2025/DS-PT ngày 25/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 1473/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger