Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

KHU VỰC 9 – CẦN THƠ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 135/2025/DS - ST.

Ngày: 09 - 12 - 2025.

V/v “tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trà Minh Châu.
  2. Bà Trần Thúy Kiều.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ông Thị Cành Nha – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2025/TLST - DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về “tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2025/QĐXXST - DS ngày 04 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trương Văn B, sinh ngày 18/12/1984; căn cước công dân: [...]; địa chỉ: Ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ.
  2. Bị đơn: Ông Phan Văn G, sinh ngày 31/12/1963; căn cước công dân: [...] và bà Lê Thị T (Lê Thị T1), sinh ngày 01/01/1975; căn cước công dân: [...]; cùng địa chỉ: ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn lập ngày 10/9/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trương Văn B trình bày: Ông B có nhận cầm cố của ông Phan Văn G và bà Lê Thị T phần diện tích đất ruộng 5,5 công (năm công rưỡi tầm 03 mét), thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T. Giá cầm cố là 58 chỉ vàng 24k (năm mươi tám chỉ vàng 24k) được trả làm hai lần, lần thứ nhất ông B giao 40 chỉ vàng 24k, lần thứ hai ông B giao 18 chỉ vàng 24k. Thời hạn chuộc lại đất là 02 năm, nếu đến hạn ông G, bà T không chuộc lại đất thì ông B tiếp tục quản lý, canh tác đất. Tuy nhiên, ông G, bà T đã thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho Ngân hàng TMCP S để vay vốn. Đến nay không có khả năng trả vốn và lãi nên ngân hàng đã kiện và P thi hành án khu vực 9 đã ban hành quyết định kê biên bán đấu giá thửa đất nêu trên.

Tại phiên tòa nguyên đơn ông Trương Văn B yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Trương Văn B với ông Phan Văn G và bà Lê Thị T đối với phần diện tích đất ruộng 5,5 công (năm công rưỡi tầm 03 mét), thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T là vô hiệu.
  • Buộc ông Phan Văn G và bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả lại cho ông B số vàng 58 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%) tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử, ông B đã trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông G, bà T để cho Thi hành án kê biên bán đấu giá theo quy định pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T1 trình bày: Ông G và bà T có cố phần diện tích đất ruộng 5,5 công (năm công rưỡi tầm 03 mét), thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị Tuyết . Giá cầm cố là 58 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%). Ông B đã giao đủ làm 02 lần: Lần thứ nhất ông B giao 40 chỉ vàng 24k, lần thứ hai ông B giao 18 chỉ vàng 24k. Thời hạn chuộc lại đất là 02 năm. Ông G và bà T đồng ý tuyên bố hợp đồng cầm cố vô hiệu. Hiện phần đất cầm cố thi hành án đã ra kê biên bán đấu giá nên ông G và bà T đồng ý trả 58 chỉ vàng 24k (loại 98%) cho ông B nhưng do hiện nay hoàn cảnh khó khăn nên xin trả vào tháng 3 năm 2026.

Tại phiên toà, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ tham gia phiên tòa trình bày ý kiến: Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách của người tham gia tố tụng trong vụ án là đúng quy định của pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Riêng bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T chưa thực hiện đúng, đủ quyền, nghĩa vụ theo qui định của pháp luật. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra các chứng cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn B. Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Trương Văn B và ông Phan Văn G, bà Lê Thị T (T1) đối với phần diện tích 12.891m² thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T (T1) là vô hiệu.

Bị đơn ông G và bà T có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn 58 chỉ vàng 24K (loại 98%) quy ra tiền tại thời điểm xét xử là 810.260.000 đồng.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện lập ngày 10/9/2025 của nguyên đơn ông Trương Văn B yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Trương Văn B với ông Phan Văn G và bà Lê Thị T đối với phần diện tích đất ruộng 5,5 công (năm công rưỡi tầm 03 mét), thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T là vô hiệu. Buộc ông Phan Văn G và bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả lại cho ông B số vàng 58 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%) tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử, ông B đã trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông G, bà T để cho Thi hành án kê biên bán đấu giá theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất”.

[2]. Về thẩm quyền giải quyết: Trong vụ án, bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T hiện cư trú tại ấp S, xã T, Thành phố Cần Thơ nên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.

[4]. Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trương Văn B thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án: Tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Trương Văn B với ông Phan Văn G và bà Lê Thị T đối với phần diện tích đất ruộng 5,5 công (năm công rưỡi tầm 03 mét), thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T1 là vô hiệu. Buộc ông Phan Văn G và bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả lại cho ông B số vàng 58 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%) tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử, ông B đã trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông G, bà T để cho Thi hành án kê biên bán đấu giá theo quy định pháp luật nên ông B không có nghĩa vụ trả lại đất cầm cố. Căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét thấy việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Tại phiên tòa, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thống nhất phần đất cấm cố là phần diện tích đất ruộng 5,5 công (năm công rưỡi tầm 03 mét), thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T (T1). Hiện ông B đã trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông G, bà T để cho Thi hành án kê biên bán đấu giá theo quy định pháp luật.

[6]. Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Văn B về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông B với ông G và bà T và Buộc ông Phan Văn G và bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả lại cho ông B số vàng 58 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%) tính theo giá thị trường tại thời điểm xét xử, ông B đã trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông G, bà T để cho Thi hành án kê biên bán đấu giá theo quy định pháp luật nên ông B không có nghĩa vụ trả lại phần đất cấm cố cho ông G và bà T, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa nguyên đơn ông Trương Văn B, bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T đều thừa nhận vào ngày 04/11/2017 ông G và bà T có cầm cố cho ông Trương Văn B phần đất ruộng có diện tích 5,5 công (năm công rưỡi tầm 03 mét), thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T và ông G và bà T đã nhận đủ số vàng 58 chỉ vàng 24k (loại 98%).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự các tình tiết nêu trên là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong vụ án nên Hội đồng xét xử khẳng định hiện nay bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T còn nợ nguyên đơn số vàng 58 chỉ vàng 24k (loại 98%) và phần đất cấm cố nêu trên đã bị Thi hành án kê biên bán đấu giá theo quy định pháp luật là sự thật.

[7]. Xét tính hợp pháp của hợp đồng hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Trương Văn B và ông Phan Văn G và bà Lê Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại thời điểm ký kết hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất những người tham gia giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện giữa các bên; đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà ông Phan Văn G và bà Lê Thị T; tuy nhiên, vào thời điểm này pháp luật về đất đai không cho phép người sử dụng đất cầm cố quyền sử dụng đất nên giao dịch cầm cố quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Trương Văn B và ông Phan Văn G, bà Lê Thị T là vi phạm điều cấm của luật. Từ những phân tích nêu trên, căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6, khoản 4 Điều 12, Điều 166 và Điều 188 của Luật đất đai năm 2013, Hội đồng xét xử tuyên bố hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất là “Hợp đồng cố đất ngày 04/11/2017” giữa nguyên đơn ông Trương Văn B với bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T đối với diện tích đất ruộng 5,5 công như đã nêu trên là vô hiệu.

Do hợp đồng vô hiệu nên các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận: ông Trương Văn B đã trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Phan Văn G, bà Lê Thị T để cho Thi hành án kê biên bán đấu giá theo quy định pháp luật nên nguyên đơn ông Trương Văn B không phải trả lại phần đất cấm cố cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T. Bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn ông Trương Văn B số vàng cố đất là 58 chỉ vàng 24k (loại 98%), quy giá vàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 13.970.000 đồng/01 chỉ x 58 chỉ = 810.260.000 đồng; như vậy ông Phan Văn G và bà Lê Thị T có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Trương Văn B số tiền là 810.260.000 đồng.

[8]. Ngoài ra, Trong quá trình Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trương Văn B đã có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Phong tỏa tài sản nơi gửi giữ theo quy định tại Khoản 10 Điều 114, Điều 125 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp, khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT ngày 10 tháng 11 năm 2025. Do nếu thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời sự sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại quyết định áp dụng biện pháp, khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Phong tỏa tài sản nơi gửi giữ.

[9]. Trên cơ sở đó, xét yêu cầu của nguyên đơn ông Trương Văn B và đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Nguyên đơn ông Trương Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn ông Phan Văn G và bà Lê Thị T cùng có nghĩa vụ chịu 36.307.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244 và khoản 3 Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 129, Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 6, khoản 4 Điều 12, Điều 166 và Điều 188 của Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn B. Tuyên bố vô hiệu hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất giữa ông Trương Văn B và ông Phan Văn G, bà Lê Thị T đối với phần diện tích đất ruộng 5,5 công (năm công rưỡi tầm 03 mét), thuộc thửa đất số 1624, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp S, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp S, xã T, thành phố Cần Thơ) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 767063, số vào sổ cấp GCN: CH00280 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng (nay là Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Cần Thơ) cấp ngày 29/5/2012 cho ông Phan Văn G và bà Lê Thị T là vô hiệu.
  2. Buộc bị đơn ông Phan Văn G, bà Lê Thị T có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn ông Trương Văn B số vàng là 58 (năm mươi tám) chỉ vàng 24k (loại 98%) quy ra tiền tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 810.260.000 (tám trăm mười triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng).

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày ông Trương Văn B có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Phan Văn G, bà Lê Thị T phải trả lãi cho ông B đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Trương Văn B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 15.906.800 đồng (mười lăm triệu, chín trăm lẻ sáu nghìn, tám trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003097 ngày 15/9/2025 Thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ.

    Ông Phan Văn G và bà Lê Thị T có nghĩa vụ chịu 36.307.800 đồng án phí dân sự sơ thẩm (ba mươi sáu triệu, ba trăm lẻ bảy nghìn, tám trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại quyết định áp dụng biện pháp, khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 – Cần Thơ về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Phong tỏa tài sản nơi gửi giữ. Biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định pháp luật.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND khu vực 9 – Cần Thơ;
  • - THADS Thành phố Cần Thơ;
  • - TAND Thành phố Cần Thơ
  • (P. TTr, KT&THA);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Ánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 135/2025/DS - ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 135/2025/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger