Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK

Bản án số: 131/2025/HS-ST

Ngày 17 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kăn Niê.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Chính, ông Nguyễn Hưng.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Tòa án nhân dân khu

vực 1 – Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 17/12/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk xét xử

sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2025/TLST-HS ngày 20

tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2025/QĐXXST-

HS ngày 05/12/2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Vũ Trường S (T gọi khác: Thỏ) – Sinh ngày 17/3/1982, tại: tỉnh

Đắk Lắk. Nơi cư trú: Số A N, tổ dân phố D, phường T, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp:

Không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;

quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn M (đã chết) và con bà Ngô Thị B, sinh năm

1960; bị cáo không có vợ và có 01 con, sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07 tháng 10 năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn

Ma Thuột, Đắk Lắk ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ

sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, tại Quyết

định số 158/2019/QĐ-TA. Ngày 03 tháng 11 năm 2020 chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, kể từ ngày 04 tháng 8

năm 2025 cho đến nay.(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Nguyễn Hoàng Minh Q (T gọi khác: Không) – Sinh ngày

03/6/2004, tại: tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Số A đường N, phường B, tỉnh Đắk Lắk;

nghề nghiệp: Chạy xe công nghệ; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính:

Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành M1, sinh

năm 1963 và con bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 07 tháng 02 năm 2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử

phạt 01 năm 03 tháng tù giam, về tội Cố ý gây thương tích, tại Bản án hình sự phúc

thẩm số 16/2023/HSPT. Chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C. Ngày 01 tháng 5 năm

2024 chấp hành xong hình phạt tù (Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người dưới 18

tuổi nên được coi là không có án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam, kể từ ngày 03 tháng 8

năm 2025 cho đến nay.(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Hoàng Tú T1, sinh năm

1989. (Có mặt)

Địa chỉ: Số H Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vũ Trường S là người sử dụng chất thảo mộc khô được phun tẩm ma tuý, thường gọi

là ma túy DOMINIX. Do không có công việc ổn định và cần tiền tiêu xài cá nhân,

nên S đã nảy sinh ý định mua ma túy DOMINIX về để bán kiếm lời và sử dụng cho

bản thân. Quá trình sử dụng ma tuý, S biết người có tài khoản Facebook tên “Long

Ne”, có bán ma túy DOMINIX. Bản thân S không biết sử dụng điện thoại di động,

nên S mượn điện thoại và tài khoản Facebook của người khác (chưa xác định nhân

thân, lai lịch) để liên hệ với người có tài khoản Facebook "Long Ne” hỏi mua ma

túy. Sau đó, người bán ma túy nhắn tin mã QR tài khoản ngân hàng cho S, thì S nhờ

người ở tiệm tạp hóa (chưa xác định nhân thân, lai lịch và địa điểm quán tạp hóa)

chuyển khoản tiền mua ma tuý cho “Long Ne”. Sau khi chuyển tiền thành công,

người bán ma túy nhắn tin vị trí cất giấu ma túy để S tự đến lấy. Bằng cách thức như

trên, S đã mua ma túy DOMINIX của người có tài khoản Facebook “Long Ne” hai

lần để bán lại, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 7 năm 2025, Vũ Trường S mua 02 (hai) gói

chứa 14 (mười bốn) điếu ma túy DOMINIX, với giá 700.000 đồng của người có tài

khoản Facebook là “L”. Đến khoảng ngày 20 tháng 7 năm 2025, S sử dụng hết 01

(một) gói ma túy DOMINIX, còn lại 01 (một) gói chứa 07 (bảy) điếu ma túy

DOMINIX, thì có người đàn ông tên T2 (chưa xác định nhân thân, lai lịch) đến thỏa

thuận đổi cho S 01 (một) gói ma túy, loại Cần sa lấy 01 (một) gói ma túy DOMINIX

tại khu vực gần nhà S thuộc K, phường T, tỉnh Đắk Lắk, thì S đồng ý. Sau đó, S bán

lại 01 (một) gói ma túy, loại Cần sa này cho Nguyễn Hoàng Minh Q và thu lợi số tiền

700.000 đồng. Sau khi mua ma túy, Q đem ma túy về nhà tại địa chỉ số A đường N,

phường B, tỉnh Đắk Lắk, phân ra thành 03 (ba) gói nilon nhỏ hơn chứa ma túy, loại

Cần sa. Ngày 03 tháng 8 năm 2025, Q một mình sử dụng hết 01 (một) gói ma túy,

loại Cần sa, còn lại 02 (hai) gói, Q cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Vào khoảng

19 giờ ngày 03 tháng 8 năm 2025, một người sử dụng tài khoản Facebook "An

Nguyễn” có số điện thoại 0846.720.xxx liên lạc đến tài khoản Facebook của Q tên

“Nguyễn Hoàng Minh Q”, được đăng nhập trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone

12 Pro của Q, hỏi mua 500.000 đồng ma túy, loại Cần sa, thì Q đồng ý và hẹn “An

Nguyễn” đến địa chỉ số B đường N, phường B, tỉnh Đắk Lắk để lấy ma túy. Sau đó,

Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47B3-115.76 mang theo 02 (hai) gói ma túy,

loại Cần sa đi bán. Khi Q đi đến địa chỉ số B đường N, phường B, tỉnh Đắk Lắk,

nhưng chưa kịp bán ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát

hiện bắt quả tang, tạm giữ cùng tang vật.

Lần thứ hai: Vào ngày 03 tháng 8 năm 2025, S tiếp tục liên hệ mua 10

(mười) gói ma túy DOMINIX, mỗi gói bên trong có chứa 07 (bảy) điếu hình trụ

màu nâu, tổng cộng 70 (bảy mươi) điếu, với số tiền 3.500.000 đồng, mục đích để

bán thu lợi bất chính và sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy DOMINIX,

S mang về nhà ở tại tổ dân phố D, phường T, tỉnh Đắk Lắk, sử dụng hết 04 (bốn) điếu

ma túy DOMINIX, còn lại 09 (chín) gói mỗi gói chứa 07 (bảy) điếu ma túy

DOMINIX và 01 (một) gói chứa 03 (ba) điếu ma túy DOMINIX, tổng cộng có 66

(Sáu mươi sáu) điếu ma túy DOMINIX, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

tỉnh Đ phát hiện, tạm giữ toàn bộ tang vật.

* Đồ vật, tài liệu bị tạm giữ:

  • - 02 (hai) gói nylon bên trong đều chứa chất thảo mộc khô màu xanh được
  • niêm phong theo quy định; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 Pro,
  • màu trắng, gắn sim số 0938753783; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SH Mode, màu
  • đỏ, biển số 47B3-115.76 (xe đã qua sử dụng) của Nguyễn Hoàng Minh Q.
  • - 09 (chín) gói nylon mỗi gói chứa 07 (bảy) gói giấy hình trụ và 01 (một) gói
  • nylon chứa 03 (ba) gói giấy hình trụ chứa thảo mộc khô màu nâu được niêm phong
  • theo quy định, của Vũ Trường S.

* Tại bản Kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 08 tháng 8 năm 2025

của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận:

“Thảo mộc khô màu xanh bên trong 02 (hai) gói nylon được niêm phong gửi

giám định là ma túy, loại: Cần sa, khối lượng 3,0363 gam.

H1 lại đối tượng gửi giám định gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối

lượng: 2,5618 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

*Tại Bản Kết luận giám định số 330/KL-KTHS ngày 29 tháng 8 năm 2025

của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận:

“Xe mô tô nhãn hiệu HONDA (SH MODE), màu sơn đỏ, mang biển số 47B3-

115.76, có: Hàng chữ số RLHJK0110PZ407201 đóng ở khung xe và hàng chữ số

JK01E-0516228 đóng ở thân máy là hai hàng chữ số nguyên thuỷ của xe.”

* Tại Kết luận giám định số 6808/KL-KTHS ngày 12 tháng 9 năm 2025 của

V - Bộ C, kết luận:

“Tìm thấy các chất ma tuý MDMB-4en-PINACA, MDMB-INACA trong các

mẫu thảo mộc khô màu nâu gửi giám định. Tổng khối lượng mẫu thảo mộc khô

màu nâu: 53,638 gam. Khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA: 0,107 gam.

Hiện nay V chưa có mẫu chuẩn định lượng chất ma tuý MDMB-INACA nên

không xác định được hàm lượng, khối lượng chất MDMB-INACA có trong mẫu.

H1 lại đối tượng giám định: Mẫu vật sau giám định và vỏ bao gói mẫu được

hoàn lại trong niêm phong số: 6808/KL-KTHS, theo Biên bản đóng gói, niêm phong

và giao, nhận lại đối tượng giám định.

Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS-KV1 ngày 19/11/2025, của Viện kiểm sát

nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk truy tố các bị cáo Vũ Trường S về tội “Mua bán trái

phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn

Hoàng Minh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ

luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của

các bị cáo trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk

đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và giữ nguyên

nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Trường S,

Nguyễn Hoàng Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”:

- Về hình phạt:

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
  • sự. Xử phạt bị cáo Vũ Trường S từ 07 (B) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T3) năm tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử
  • phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Minh Q từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B1) năm
  • tù.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,5618 gam và toàn
  • bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một (01)
  • phong bì “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Hoàng Minh Q”, có các chữ ký
  • ghi tên: Nguyễn Bá H, Nguyễn Bá H1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công
  • an tỉnh Đ và Mẫu vật sau giám định và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại trong niêm
  • phong số: 6808/KL-KTHS, theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại

đối tượng giám định. Là các vật chứng của vụ án, nhưng không còn giá trị sử dụng,

nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Pro, màu vàng,
  • gắn sim số 0938753783 của Nguyễn Hoàng Minh Q, là phương tiện bị cáo Q đã sử
  • dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Là vật chứng của vụ án, nên đề nghị tịch thu
  • sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Đối với 01 (một) xe mô tô gắn biển số 47B3-115.76, quá trình điều tra xác
  • định chiếc xe mô tô trên do chị Nguyễn Hoàng Tú T1, sinh năm 1989, trú tại số H
  • đường Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk (là chị gái của bị cáo Nguyễn Hoàng Minh Q)
  • đứng tên đăng ký sở hữu hợp pháp. Ngày 03 tháng 8 năm 2025, bị cáo Q đã mượn
  • chiếc xe mô tô trên của chị T1 để làm phương tiện chạy xe dịch vụ G, sau đó sử
  • dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì chị T1 không biết. Do đó, Cơ
  • quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe
  • mô tô biển số 47B3-115.76 có đặc điểm như trên cho chị Nguyễn Hoàng Tú T1 nhận
  • quản lý, sử dụng, đồng thời không đề cập xử lý đối với chị T1, là có căn cứ và phù
  • hợp.
  • + Đối với số tiền 700.000 đồng, là số tiền bị cáo Vũ Trường S đã thu lợi bất
  • chính từ việc phạm tội mà có, nhưng sau đó bị cáo S đã tiêu xài hết, nên đề nghị truy
  • thu của bị cáo S để sung vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo Vũ Trường S, Nguyễn Hoàng Minh Q không tranh luận, chỉ đề nghị Hội

đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra

viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình

điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ

luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc

khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến

hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại

Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,

người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ

sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày

20 tháng 7 năm 2025, tại phường T, tỉnh Đắk Lắk, Vũ Trường S đã bán trái phép chất

ma tuý, loại Cần sa cho Nguyễn Hoàng Minh Q, thu lợi bất chính số tiền 700.000

đồng. Sau khi mua ma tuý của S, vào ngày 03 tháng 8 năm 2025, tại phường B, tỉnh

Đắk Lắk, Q đã bán trái phép 3,0363 gam ma tuý, loại Cần sa nhằm thu lợi bất chính

số tiền 500.000 đồng, nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, Vũ Trường S còn có hành vi tàng trữ 53,638

gam chất thảo mộc khô màu nâu, có tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINAC: khối

lượng 0,107 gam và ma túy loại MDMB-INACA (không xác định được khối lượng),

nhằm mục đích bán cho người khác để thu lợi bất chính, nhưng chưa kịp bán thì bị

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang.

Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Vũ Trường S đã cấu thành tội

Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2

Điều 251 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và hành vi của bị cáo Nguyễn

Hoàng Minh Q đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình

phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

* Điều 251 Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07

năm.

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15

năm:

b) Phạm tội 02 lần trở lên.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại

điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm

tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà

nước về chất ma túy. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức

được rằng ma túy là chất gây nghiện làm hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên

nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, tội phạm khác và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã

hội. Các bị cáo nhận thức được mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều bị

pháp luật nghiêm cấm. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật và ham lợi

nhuận nên các bị cáo đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì bị bắt quả

tang. Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Vũ Trường S vào ngày 07 tháng 10 năm

2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk ra Quyết định áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều

trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk, tại Quyết định số 158/2019/QĐ-TA đến ngày

03 tháng 11 năm 2020 chấp hành xong; bị cáo Nguyễn Hoàng Minh Q vào ngày 07

tháng 02 năm 2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù

giam, về tội Cố ý gây thương tích, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 16/2023/HSPT.

Chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C, ngày 01 tháng 5 năm 2024 chấp hành xong

hình phạt tù (Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi nên được coi là

không có án tích). Tuy nhiên, các bị cáo không lấy đó làm bài học để học tập, rèn

luyện cho bản thân để trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, căn cứ

vào các tình tiết của vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét

thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly các bị cáo khỏi

xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa

chung trong xã hội. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm khắc

với hành vi của các bị cáo thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục các

bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk truy tố đối với bị cáo Vũ

Trường S về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ

luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Hoàng Minh Q về tội “Mua bán trái phép chất ma

tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp

luật.

[5] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ

luật.

  • - Đối với mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 2,5618 gam và toàn bộ
  • bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một (01) phong
  • bì “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Hoàng Minh Q”, có các chữ ký ghi tên:
  • Nguyễn Bá H, Nguyễn Bá H1 và đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K – Công an tỉnh
  • Đ và Mẫu vật sau giám định và vỏ bao gói mẫu được hoàn lại trong niêm phong số:
  • 6808/KL-KTHS, theo Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng
  • giám định. Là các vật chứng của vụ án, nhưng không còn giá trị sử dụng, nên cần
  • tịch thu tiêu hủy.
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Pro, màu vàng,
  • gắn sim số 0938753783 của Nguyễn Hoàng Minh Q, là phương tiện bị cáo Q đã sử
  • dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Là vật chứng của vụ án, nên cần tịch thu sung
  • vào ngân sách nhà nước.
  • + Đối với 01 (một) xe mô tô gắn biển số 47B3-115.76, quá trình điều tra xác
  • định chiếc xe mô tô trên do chị Nguyễn Hoàng Tú T1, sinh năm 1989, trú tại số H
  • đường Đ, phường B, tỉnh Đắk Lắk (là chị gái của bị cáo Nguyễn Hoàng Minh Q)
  • đứng tên đăng ký sở hữu hợp pháp. Ngày 03 tháng 8 năm 2025, bị cáo Q đã mượn
  • chiếc xe mô tô trên của bà T1 để làm phương tiện chạy xe dịch vụ G, sau đó sử dụng
  • làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội thì bà T1 không biết. Do đó, Cơ quan
  • Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô
  • biển số 47B3-115.76 có đặc điểm như trên cho bà Nguyễn Hoàng Tú T1 nhận quản

lý, sử dụng, đồng thời không đề cập xử lý đối với bà T1, là có căn cứ và phù hợp nên

cần chấp nhận.

  • + Đối với số tiền 700.000 đồng, là số tiền bị cáo Vũ Trường S đã thu lợi bất
  • chính từ việc phạm tội mà có, nên cần truy thu của bị cáo S để sung vào ngân sách
  • nhà nước.

[6] Về hành vi và đối tượng khác có liên quan trong vụ án:

  • + Đối với người đàn ông tên T2 thoả thuận đổi 01 (một) gói ma tuý, loại
  • Cần sa lấy 01 (một) gói ma tuý DOMINIX với bị cáo Vũ Trường S; người sử dụng
  • tài khoản facebook "Long Ne” bán ma túy cho bị cáo S, người cho bị cáo S mượn
  • điện thoại liên lạc để mua ma túy, người bị cáo S nhờ chuyển khoản tiền mua ma túy
  • và người đàn ông sử dụng tài khoản facebook “An Nguyễn” mua ma túy của bị cáo
  • Nguyễn Hoàng Minh Q. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được
  • nhân thân, lai lịch và chưa làm việc được với những người trên. Do đó, Cơ quan
  • Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh
  • làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật, là có căn cứ và phù hợp.
  • + Đối với địa điểm Vũ Trường S cất giấu ma tuý tại số A đường N, phường T,
  • tỉnh Đắk Lắk. Quá trình điều tra xác định đây là đất thuộc hành lang giao thông
  • đường bộ do Nhà nước đang quản lý, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ
  • không đề cập xử lý là có căn cứ và phù hợp.
  • + Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Hoàng
  • Minh Q, Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình
  • thức Cảnh cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP
  • ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ, là có căn cứ và phù hợp.

[7] Về án phí: Các bị cáo Vũ Trường S, Nguyễn Hoàng Minh Q mỗi bị cáo phải

chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Vũ Trường S, bị cáo Nguyễn Hoàng Minh Q phạm tội:

Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
  • sự. Xử phạt bị cáo Vũ Trường S 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp
  • hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2025.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử
  • phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Minh Q 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp
  • hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2025.

[2] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ

luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, tiêu hủy đối với mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng
  • 2,5618 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm
  • phong trong một (01) phong bì “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Hoàng
  • Minh Q”, có các chữ ký ghi tên: Nguyễn Bá H, Nguyễn Bá H1 và đóng dấu tròn màu
  • đỏ của Phòng K – Công an tỉnh Đ; 01 (một) túi niêm phong trong bìa hồ sơ đã cắt
  • mép, bên trong có 01 túi nilon chứa thảo mộc khô, màu nâu: 49,116 gam và vỏ bao
  • gói, toàn bộ đối tượng giám định hoàn lại và vỏ bao gói mẫu được đựng trong 01 túi
  • niêm phong dan kín số: 6808/KL-KTHS, được niêm phong có các chữ ký ghi họ
  • tên Nguyễn Thị Thu L, Vũ Thị Mỹ L1 và các hình dấu đỏ của V - Bộ C, là các vật
  • chứng của vụ án.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn
  • hiệu Iphone12 Pro, màu vàng, gắn sim số 0938753783 của Nguyễn Hoàng Minh Q,
  • là phương tiện bị cáo Q đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
  • - Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định
  • xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 47B3-115.76 cho bà Nguyễn Hoàng Tú T1
  • là chủ sở hữu hợp pháp nhận quản lý, sử dụng. Đồng thời, không đề cập xử lý đối
  • với bà Nguyễn Hoàng Tú T1.
  • - Truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước đối với số tiền 700.000 đồng, là
  • số tiền bị cáo Vũ Trường S đã thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có.

(Các vật chứng, tài sản có đặc điểm như trong biên bản về việc giao nhận vật

chứng, tài sản, ngày 20/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và

Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 – Đắk Lắk).

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1

Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường

vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Vũ Trường S, Nguyễn Hoàng Minh Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000

đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt

tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên

án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị

cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I - TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT (PV06);
  • - VKSND Khu vực 1 - Đắk Lắk;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - THA phạt tù (để thi hành);
  • - Bị cáo; Người liên quan (Nếu có);
  • - Lưu Hồ sơ, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Y Kăn Niê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 131/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 131/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Trường Sơn + 01 Bị cáo - Tội mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger