|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 13/2025/HNGĐ-ST Ngày 19/12/2025 V/v “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Mạnh Lưu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Tri
Ông Lê Xuân Nam
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Hoài – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/11/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 2000; Số CCCD: [...]; Địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Viết T, sinh năm 1991; Số CCCD: [...]; Địa chỉ: Thôn L, xã K, tỉnh Quảng Trị; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Lê Viết T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 28/6/2023 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã K, tỉnh Quảng Trị). Trong quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Lê Viết T không có tiếng nói chung, anh T không chăm lo cho gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Hiện chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Lê Viết T đã sống ly thân từ tháng 8/2024 cho đến nay. Vì vậy, chị Nguyễn Thị Tuyết N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn anh Lê Viết T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Lê Viết T có 02 con chung là cháu Lê Thành Đ, sinh ngày 17/5/2023 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 28/02/2025, hiện các cháu đang sống chung với chị N, hiện các cháu đang còn nhỏ, chị N đang làm nghề buôn bán có đủ điều kiện để nuôi con. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị Tuyết N có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con. Không yêu cầu anh Lê Viết T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Viết T có ý kiến:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Viết T và chị Nguyễn Thị Tuyết N kết hôn với nhau là tự nguyện, theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẩn nên anh Lê Viết T đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị Tuyết N.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Thành Đ, sinh ngày 17/5/2023 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 28/02/2025. Khi ly hôn, anh Lê Viết T có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Lê Thành Đ; Giao cháu Lê Minh K cho chị Nguyễn Thị Tuyết N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 09/12/2025 anh Lê Viết T đồng ý giao cả 02 cháu cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết N đã giao nộp: 01 Đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2025; 01 Trích lục kết hôn (bản sao); 01 CCCD mang tên Nguyễn Thị Tuyết N (bản chứng thực); 01 Xác nhận thông tin về cư trú; 02 Giấy khai sinh của con (bản sao).
Bị đơn anh Lê Viết T giao nộp: 01 Bản trình bày ý kiến đề ngày 06/10/2025.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương cho thấy: Anh Lê Viết T và chị Nguyễn Thị Tuyết N kết hôn và chung sống với nhau tại thôn L, xã K, tỉnh Quảng Trị và có với nhau hai người con chung, quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thì địa phương không nắm rõ. Anh T và chị N không còn chung sống với nhau nữa. Hiện tại chị N đã đưa cả hai con về nhà mẹ đẻ tại xã T. Anh T đang sinh sống tại thôn L, xã K cùng với bố mẹ đã trên 70 tuổi, anh T hiện đang nuôi một người con của vợ trước, anh T hiện chưa có công ăn việc làm ổn định.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện khu vực 7, tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Cụ thể trong vụ án này, đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn. Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc thụ lý vụ án đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự.
Thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc xét xử được tiến hành công khai, công bằng. Đảm bảo sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự.
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn với anh Lê Viết T.
Về con chung: Giao hai cháu Lê Thành Đ, sinh ngày 17/5/2023 và Lê Minh K, sinh ngày 28/02/2025 cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Viết T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Chị Nguyễn Thị Tuyết N khởi kiện xin được ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con với anh Lê Viết T có địa chỉ tại thôn L, xã K, tỉnh Quảng Trị. Tòa án thụ lý giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lê Viết T. Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Viết T.
Do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Chị Nguyễn Thị Tuyết N và anh Lê Viết T tự nguyện kết hôn với nhau vào ngày 28/6/2023 tại UBND xã K, tỉnh Quảng Trị, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên chị Nguyễn Thị Tuyết N đã về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án, anh T thừa nhận vợ chồng hiện không sống chung với nhau, phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Nguyên đơn không có yêu cầu
[3]. Về con chung:
Vợ chồng có 02 con chung là cháu Lê Thành Đ, sinh ngày 17/5/2023 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 28/02/2025. Các cháu hiện đang sống với chị N, khi ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả hai cháu; Anh T đồng ý giao cả 02 cháu cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy các cháu đều dưới 36 tháng tuổi, cần sự chăm sóc của người mẹ, để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của các con nên giao các cháu Lê Thành Đ và Lê Minh K cho chị Nguyễn Thị Tuyết N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân gia đình.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Tuyết N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[6]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban T1;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được ly hôn anh Lê Viết T (Giấy chứng nhận kết hôn số 18 ngày 28/6/2023 của UBND xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị, nay là xã K, tỉnh Quảng Trị).
2. Về con chung: Giao các cháu Lê Thành Đ, sinh ngày 17/5/2023 và cháu Lê Minh K, sinh ngày 28/02/2025 cho chị Nguyễn Thị Tuyết N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Viết T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, anh Lê Viết T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà chị Nguyễn Thị Tuyết N không được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì quyền lợi của con, khi cần thiết, một hoặc hai bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000374 ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Chị Nguyễn Thị Tuyết N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Mạnh Lưu |
Bản án số 13/2025/HNGĐ-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 13/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn NHi - THành
