Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 125/2025/HNGĐ-ST

Ngày 12 tháng 12 năm 2025

“V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang, ông Nguyễn Thanh Phương;

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thảo Vy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Kim Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 233/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 508/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/10/2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thuý Loan, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số 518, tổ 17, ấp Bình Thành, xã Bình Mỹ, tỉnh An Giang (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
  • Bị đơn: Ông Lê Văn Khâm, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số 518, tổ 17, ấp Bình Thành, xã Bình Mỹ, tỉnh An Giang (vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Loan trình bày:

Bà Loan và ông Khâm chung sống đã lâu nhưng đến năm 2010 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ, tỉnh An Giang. Quá trình sống chung vào thời gian đầu hạnh phúc, đến năm 2015 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Ông Khâm bỏ nhà đi hơn 10 năm nay, lễ tết mới về thăm con và cúng đám trong gia đình. Bà cảm thấy tình cảm không còn, hôn nhân không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với ông Khâm. Bà và ông Khâm sinh được 04 con chung tên Lê Thị Quỳnh Như, sinh ngày 17/10/2004 (đã trưởng thành); Lê Thị Kim Yến, sinh ngày 23/9/2009; Lê Hải Đăng, sinh ngày 29/8/2011; Lê Thị Kim Ánh, sinh ngày 11/6/2016. Đối với cháu Như đã trưởng thành bà Loan không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với 03 cháu còn lại bà Loan yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Khâm cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Loan không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết sản chung, nợ chung.

Kết quả xác minh tại Ban ấp Bình Thành, xã Bình Mỹ, tỉnh An Giang cho biết, ông Lê Văn Khâm, sinh năm 1979 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Số 518, tổ 17, ấp Bình Thành, xã Bình Mỹ, tỉnh An Giang. Hiện nay đi đâu, làm gì không rõ. Tuy nhiên lễ, tết ông Khâm có về địa phương.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Khâm vắng mặt nên không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa,

  • Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt;
  • Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về thủ tục: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Loan được ly hôn với ông Khâm. Về con chung: Lê Thị Quỳnh Như, sinh ngày 17/10/2004 đã trưởng thành có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết. Đối với Lê Thị Kim Yến, sinh ngày 23/9/2009; Lê Hải Đăng, sinh ngày 29/8/2011; Lê Thị Kim Ánh, sinh ngày 11/6/2016 có nguyện vọng được sống với bà Loan nên đề nghị giao 03 con chung cho bà Loan nuôi dạy; bà Loan không yêu cầu ông Khâm cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung không đề cặp xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn. Bị đơn cư trú trên địa bàn thuộc khu vực 13, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS); khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Loan và ông Khâm kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Mỹ nên được xem là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Xét, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống bà Loan, ông Khâm xảy ra mâu thuẫn, không còn sống chung với nhau hơn 10 năm, trong suốt quá trình giải quyết vụ án vợ chồng không hàn gắn tình cảm. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân của bà Loan, ông Khâm là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Loan ly hôn với ông Khâm là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 như đề nghị của Kiểm sát viên.

[4] Về con chung: Bà Loan và ông Khâm sinh được 04 con chung tên Lê Thị Quỳnh Như, sinh ngày 17/10/2004 (đã trưởng thành); Lê Thị Kim Yến, sinh ngày 23/9/2009; Lê Hải Đăng, sinh ngày 29/8/2011; Lê Thị Kim Ánh, sinh ngày 11/6/2016.

Cháu Lê Thị Quỳnh Như, sinh ngày 17/10/2004 đã trưởng thành, có khả năng lao động bà Loan không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Các cháu Lê Thị Kim Yến, sinh ngày 23/9/2009; Lê Hải Đăng, sinh ngày 29/8/2011; Lê Thị Kim Ánh, sinh ngày 11/6/2016 chưa thành niên, có nguyện vọng được sống chung với bà Loan. Bà Loan có yêu cầu được nuôi con chung nên HĐXX giao 03 con chung cho bà Loan nuôi dạy. Bà Loan không yêu cầu ông Khâm cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không buộc ông Khâm phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Loan cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Khâm trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Loan không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Về án phí hôn nhân sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Bị đơn không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy Loan.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy Loan được ly hôn với ông Lê Văn Khâm.

2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thúy Loan được tiếp tục nuôi dạy con chung Lê Thị Kim Yến, sinh ngày 23/9/2009; Lê Hải Đăng, sinh ngày 29/8/2011; Lê Thị Kim Ánh, sinh ngày 11/6/2016 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Ông Lê Văn Khâm không cấp dưỡng nuôi con.

Bà Loan cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Khâm trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Thúy Loan phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003065 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Gaing; bà Loan đã nộp đủ án phí.

Ông Lê Văn Khâm không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND KV13 - AG (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Phòng THADS KV13 – AG (1);
  • - UBND xã Bĩnh Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 125/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh An Giang về tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 125/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 13, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Loan, ông khâm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger