TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2025/HS-ST Ngày: 25/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hòe; bà Hoàng Thị Thoan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Lan Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về “Phần dân sự trong vụ án hình sự” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 giữa:
Nguyên đơn dân sự:
- Bà Nguyễn Thị Thảo D; sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn S; sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn V, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Phan Thị Thu H; sinh năm 1986; địa chỉ: Khu phố A, phường N, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1; sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Ông Phan Thanh D1; sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn N, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Sỹ P; sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố A, phường Q, tỉnh Quảng Trị; (Hiện đang bị tạm giam tại Công an quận B), vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thành T; sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố B, phường Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Văn Thị Kim N; sinh năm 1989; địa chỉ: Khu phố B, phường Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị L; sinh năm 1979; địa chỉ: khu phố A, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Và các bị đơn dân sự:
- Hồ Thị Hương L1, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1989 tại: Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố B, phường Q, tỉnh Quảng Trị (trước đây là phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị); Là người bị kết án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS theo bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HSST ngày 02/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S1 - Bộ C1; có mặt tại phiên toà.
- Dương Tất C, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1989 tại: Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố B, phường Q, tỉnh Quảng Trị (trước đây là phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị); Là người bị kết án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS theo bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HSST ngày 02/8/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N5 - Bộ C1; có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Ái V, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố B, phường N, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Ông Võ Hoàng Lê N1, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố B, phường Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Tố N2, sinh năm 1981; địa chỉ: Khu phố B, phường Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Phan Thị Thanh N3, sinh năm 1993; địa chỉ: Số nhà B H, Khu phố D, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Lê Cẩm Phương N4, sinh năm 1986; địa chỉ: Tiểu khu C, xã T, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Bà Bùi Thị Ánh T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong năm 2022, do cần tiền để trả nợ, Hồ Thị Hương L1 đã đưa ra thông tin gian dối là vay tiền để đáo hạn ngân hàng, nên đã làm cho bà Nguyễn Thị Thảo D, Phan Thị Thu H, Nguyễn Thị H1, Văn Thị Kim N, Hoàng Thị L và ông Hoàng Văn S, Phan Thanh D1, Nguyễn Sỹ P, Nguyễn Thành T tin tưởng cho vay. Sau khi nhận được tiền vay, L sử dụng để trả nợ vay cho những người cho vay trước đó, dẫn đến không có khả năng thanh toán, với tổng số tiền chiếm đoạt là 50.068.000.000 đồng.
Đối với Dương Tất C: Sau khi thống nhất với L, C sử dụng tài khoản ngân hàng của mình nhận để tiền vay, chuyển tiền trả nợ vay và sử dụng tiền tham gia đánh bạc trực tuyến, với tổng số tiền là 35.570.000.000 đồng, cụ thể như sau:
+ Chiếm đoạt 600.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thảo D: Ngày 02/11/2022, Hồ Thị Hương L1 đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng, bà Nguyễn Thị Thảo D tin tưởng đồng ý cho L1 vay 600.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L1 dùng số tiền trên để trả nợ cho ông Nguyễn Thành T
+ Chiếm đoạt 998.000.000 đồng của ông Hoàng Văn S: Từ ngày 06/6/2022 đến ngày 19/10/2022, L1 đã đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng, ông S tin tưởng đồng ý cho L1 vay nhiều lần, với tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng, nhưng cắt trước 2.000.000 đồng tiền lãi. Sau khi nhận được 998.000.000 đồng, L1 và C dùng số tiền trên chủ yếu để trả nợ cho bà Văn Thị Kim N (trú tại khu phố B, phường Q, tỉnh Quảng Trị), Nguyễn Thị H2 (trú tại khu phố C, phường Q, tỉnh Quảng Trị), Nguyễn Thị Ái V (trú tại khu phố B, phường N, tỉnh Quảng Trị) và ông Võ Hoàng Lê N1 (trú tại khu phố C, phường Q, tỉnh Quảng Trị), ngoài ra C dùng một phần để đánh bạc trực tuyến.
+ Chiếm đoạt 870.000.000 đồng của bà Phan Thị Thu H: Từ ngày 29/4/2022 đến ngày 25/8/2022, L1 đã đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng, bà H tin tưởng đồng ý cho L1 vay nhiều lần, với tổng số tiền là 1.290.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, L1 và C dùng số tiền trên chủ yếu để trả nợ cho bà Nguyễn Thị Tố N2, Hoàng Thị L, Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Thành T và một số người khác. Ngoài ra C dùng một phần để đánh bạc trực tuyến. Trong thời gian này, L và C đã chuyển khoản trả cho bà H 420.000.000 đồng tiền gốc và 256.180.000 đồng tiền lãi, số tiền gốc còn lại là 870.000.000 đồng.
+ Chiếm đoạt 3.000.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị H1: Từ ngày 15/9/2022 đến ngày 08/11/2022, L đã đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng, bà H1 tin tưởng đồng ý cho L vay nhiều lần, với tổng số tiền là 3.000.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền vay, L và C đã sử dụng số tiền trên trả nợ cho ông Nguyễn Thành T, các bà Võ Hoàng Lê N1, Phan Thị T2, Lê Cẩm P1, Bùi Thị Ánh T1, Nguyễn Thị Tố N2 và Văn Thị Kim N.
+ Chiếm đoạt 10.600.000.000 đồng của ông Phan Thanh D1: Từ ngày 20/6/2022 đến ngày 04/11/2022, L đã đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng, ông D1 tin tưởng đồng ý cho L vay nhiều lần, với tổng số tiền là 27.400.000.000 đồng. Nhận được tiền vay, L đã sử dụng để trả nợ cho nhiều người khác. Sau đó, L và C đã chuyển khoản trả cho ông D1 18.800.000.000 đồng, trong đó 16.800.000.000 đồng tiền gốc và 2.000.000.000 đồng tiền lãi. Số tiền gốc còn lại là 10.600.000.000 đồng.
+ Chiếm đoạt 10.400.000.000 đồng của ông Nguyễn Sỹ P: Từ ngày 08/9/2021 đến ngày 27/10/2023, L đã đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng, ông P tin tưởng đồng ý cho L vay nhiều lần với tổng số tiền 58.150.000.000 đồng. Nhận được tiền vay, L đã sử dụng để trả nợ cho nhiều người khác. Sau đó, L và C đã trả cho ông P 53.811.100.000 đồng (trong đó 47.750.000.000 đồng tiền gốc và 6.061.100.000 đồng tiền lãi). Số tiền gốc còn lại là 10.400.000.000 đồng.
+ Chiếm đoạt 12.100.000.000 đồng của ông Nguyễn Thành T: Từ ngày 23/3/2022 đến ngày 08/11/2022, L đã đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng, ông T tin tưởng đồng ý cho L vay nhiều lần với tổng số tiền 110.853.200.000 đồng (số tiền trên được chuyển vào tài khoản của L và C). Nhận được tiền vay, L và C đã sử dụng để trả nợ cho nhiều người khác. Sau đó, L và C đã chuyển trả cho ông T là 103.013.000.000 đồng.
Ngày 09/11/2022, L, C và T xác định tổng số tiền gốc còn lại là 12.100.000.000 đồng và viết “GIẤY CAM KẾT VAY TIỀN” để xác nhận nợ.
+ Chiếm đoạt 6.900.000.000 đồng của bà Văn Thị Kim N: Từ ngày 25/8/2021 đến ngày 07/11/2022, L đã đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng, bà N tin tưởng đồng ý cho L vay nhiều lần với tổng số tiền 87.018.200.000 đồng. Nhận được tiền vay, L và C đã sử dụng để trả nợ cho nhiều người khác. Sau đó, L và C đã trả tiền gốc và lãi cho bà N 89.766.005.000 đồng.
Ngày 10/11/2022, L, C và bà N xác định tổng số tiền gốc còn lại là 6.900.000.000 đồng và viết “GIẤY MƯỢN TIÊN” để xác nhận nợ.
+ Chiếm đoạt 4.600.000.000 đồng của bà Hoàng Thị L: Từ ngày 25/8/2020 đến ngày 10/11/2022, L đã đưa ra thông tin vay tiền để đáo hạn ngân hàng và kinh doanh, bà Hoàng Thị L tin tưởng đồng ý cho L vay nhiều lần với tổng số tiền 39.601.985.940 đồng. Nhận được tiền vay, L và C đã sử dụng để trả nợ cho nhiều người khác. Sau đó, L, C đã trả bà Hoàng Thị L tiền gốc và lãi là 51.347.601.600 đồng (Trong đó, năm 2022 là 26.922.560.000 đồng). Đến tháng 11/2022, L, C còn nợ bà Hoàng Thị L số tiền gốc là 4.600.000.000 đồng
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HSST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của TAND tỉnh Quảng Trị đã tuyên xử Hồ Thị Hương L1 20 năm tù, Dương Tất C 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS. Bản án còn buộc Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C có nghĩa vụ hoàn trả cho các bị hại số tiền cụ thể theo từng khoản vay.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã kháng nghị Bản án hình sự nêu trên về phần trách nhiệm dân sự.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 539/2024/HS-PT ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát cấp cao tại Đà Nẵng, hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị về phần trách nhiệm dân sự, chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị để điều tra, xét xử lại về phần trách nhiệm dân sự, với lý do: Đối với số tiền 998.000.000 đồng chiếm đoạt của ông Hoàng Văn S, C và L1 dùng phần lớn để trả cho bà Văn Thị Kim N, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Ái V và ông Võ Hoàng Lê N1; Đối với số tiền 870.000.000 đồng của bà Phan Thị Thu H, L1 và C dùng số tiền này để trả nợ cho bà Nguyễn Thị Tố N2, Hoàng Thị L, Nguyễn Thị Ái V, ông Nguyễn Thành T; Đối với số tiền 3.000.000.000 chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H1, C và L đã dùng để trả nợ cho ông Nguyễn Thành T, Võ Hoàng Lê N1 và bà Phan Thị Thanh N3, Lê Cẩm Phương N4, Bùi Thị Ánh T1, Nguyễn Thị Tố N2 và Văn Thị Kim N. Bị cáo L và C dùng phần lớn tiền chiếm đoạt của ông S, bà H1 và bà H để trả nợ cho 6 người gồm Nguyễn Thị Ái V, Võ Hoàng Lê N1, Nguyễn Thị Tố N2, Phan Thị Thanh N3, Lê Cẩm Phương N4, Bùi Thị Ánh T1 thì những người này cũng không có quyền sở hữu hợp pháp đối với số tiền này. Vì vậy, việc Tòa sơ thẩm không đưa những người này vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án để tuyên buộc họ trả lại số tiền thực nhận cho các bị hại Hoàng Văn S, Phan Thị Thu H, Nguyễn Thị H1 là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại.
Tại Công văn số 1250/VKS-P3 ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị về kết quả điều tra lại vụ án Hồ Thị Hương L1, Dương Tất C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xác định:
+ Đối với số tiền 998.000.000 đồng mà Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C đã chiếm đoạt của bị hại Hoàng Văn S:
- - Ngày 06/6/2022, chiếm đoạt 500.000.000 đồng rồi trả nợ cho bà Văn Thị Kim N.
- - Ngày 11/10/2022, chiếm đoạt 50.000.000 đồng rồi chuyển vào tài khoản Ngân hàng của C (lúc này tài khoản có 350.000.000 đồng). Sau đó C tiếp tục chuyển 100.000.000 đồng để nạp vào tài khoản đánh bạc và 250.000.000 đồng cho L1 để trả nợ ông Nguyễn Thành T. Tuy nhiên, không xác định được 50.000.000 đồng chiếm đoạt từ ông S đã được dùng để đánh bạc hay để trả nợ.
- - Ngày 17/10/2022, chiếm đoạt 200.000.000 đồng; sau đó rồi sử dụng cùng nguồn tiền khác trả nợ cho bà Nguyễn Thị H1 351.000.000 đồng và ông Võ Hoàng Lê N1 300.000.000 đồng. Hiện không xác định được số tiền 200.000.000 đồng chiếm đoạt của ông S được sử dụng để trả nợ cho bà H1 hay ông N1.
- - Ngày 19/10/2022, chiếm đoạt 248.000.000 đồng rồi trả nợ cho bà Nguyễn Thị Ái V.
+ Đối với số tiền 870.000.000 đồng mà Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C đã chiếm đoạt của bị hại Phan Thị Thu H:
- - Ngày 29/4/2022, chiếm đoạt 350.000.000 đồng rồi trả nợ cho ông Nguyễn Thành T.
- - Ngày 04/5/2022, chiếm đoạt 120.000.000 đồng rồi trả nợ cho bà Nguyễn Thị Tố N2.
- - Ngày 10/6/2022, chiếm đoạt 100.000.000 đồng rồi C sử dụng để đánh bạc qua mạng internet.
- - Ngày 01/7/2022 chiếm đoạt 100.000.000 đồng rồi C đã sử dụng để đánh bạc qua mạng internet.
- - Ngày 05/8/2022, chiếm đoạt 250.000.000 đồng rồi trả nợ cho ông Nguyễn Thành T 146.760.000 đồng và bà Hoàng Thị L 103.000.000 đồng.
- - Ngày 12/8/2022, chiếm đoạt 150.000.000 đồng rồi C đã sử dụng để đánh bạc qua mạng internet.
- - Ngày 25/8/2022, chiếm đoạt 220.000.000 đồng rồi trả nợ cho bà Nguyễn Thị Ái V.
+ Đối với số tiền 3.000.000.000 đồng mà Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C đã chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Thị H1:
- - Ngày 15/9/2022, chiếm đoạt 200.000.000 đồng rồi trả nợ cho ông Nguyễn Thành T.
- - Ngày 03/10/2022, chiếm đoạt 400.000.000 đồng rồi sử dụng cùng nguồn tiền khác và trả nợ cho ông Võ Hoàng Lê N1 91.125.000 đồng, bà Phan Thị Thanh N3 190.875.000 đồng; bà Lê Cẩm Phương N4 24.000.000 đồng; bà Bùi Thị Ánh T1 101.800.000 đồng.
- - Ngày 03/11/2022, chiếm đoạt 1.500.000.000 đồng rồi trả nợ cho ông Nguyễn Thành T.
- - Ngày 08/11/2022, chiếm đoạt 900.000.000 đồng rồi trả nợ cho bà Nguyễn Thị Tố N2 150.000.000 đồng; bà Văn Thị Kim N 500.000.000 đồng; ông Nguyễn Thành T 250.000.000 đồng.
Sau khi dùng tiền chiếm đoạt được của các bị hại để trả nợ, L1 và C đã vay lại những người này nhiều khoản tiền khác lớn hơn số tiền đã trả cho họ. Các giao dịch vay - trả tiền giữa L1, C với các ông T, N1 và các bà N, L1, H2, V, Như, N3, N, T1 diễn ra thường xuyên, liên tục, kéo dài đến gần giữa tháng 11/2022 mới kết thúc.
Số tiền vay lại từ những người trên thì L1, C tiếp tục sử dụng trả nợ xoay vòng cho nhiều người khác nhau hoặc đánh bạc. Hiện, Hồ Thị Hương L1 vẫn đang còn nợ bà Phan Thị Thanh N3 số tiền 1.000.000.000 đồng; nợ bà Bùi Thị Ánh T1 số tiền 840.000.000 đồng; nợ ông Võ Hoàng Lê N1 số tiền 1.270.000.000 đồng; nợ bà Lê Cẩm Phương N4 số tiền 3.000.000.000 đồng; nợ bà Nguyễn Thị H2 số tiền 500.000.000 đồng; tuy nhiên, các bên xác định đây là quan hệ dân sự nên không có yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quan điểm như bản kết luận đã công bố.
Nguyên đơn dân sự bà Hoàng Thị L có mặt tại phiên toà yêu cầu Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C phải trả cho bà khoản tiền đã chiếm đoạt.
Bị đơn dân sự Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C nhất trí liên đới bồi thường theo yêu cầu của các nguyên đơn dân sự và xác định trách nhiệm bồi thường thuộc về C và L1 còn những người có quyền lợi liên quan không có trách nhiệm hoàn trả số tiền mà C và L1 đã chiếm đoạt của người khác để trả cho họ vì sau khi trả thì C và L1 đã mượn lại số tiền nhiều hơn số tiền đã trả và hiện tại C và L1 vẫn còn nợ họ.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã trình bày tại các bản tự khai: Sau khi L1 và C trả tiền thì họ đã mượn lại với số tiền lớn hơn. Số tiền vay mượn trên là quan hệ dân sự nên không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quyết định của Bản án hình sự phúc thẩm số 539/2024/HS-PT ngày 18/11/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã huỷ một phần bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị và giao hồ sơ cho Toà án sơ thẩm xem xét xử lại phần dân sự nên Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị thụ lý, giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa, vắng mặt một số nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát đã lấy đầy đủ lời khai của những người này. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Theo kết quả điều tra lại xác định: Sau khi chiếm đoạt tiền của các bị hại, Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C đã dùng một phần số tiền đó để trả nợ cho các cá nhân gồm: Nguyễn Thị Ái V, Võ Hoàng Lê N1, Nguyễn Thị Tố N2, Phan Thị Thanh N3, Lê Cẩm Phương N4 và Bùi Thị Ánh T1. Những
người này đều khai không biết và không thể biết nguồn tiền do phạm tội mà có. Sau khi nhận tiền, những người trên còn tiếp tục cho vay lại, phát sinh các giao dịch dân sự độc lập. Không có chứng cứ cho thấy họ tham gia, hưởng lợi hoặc chiếm giữ tài sản do phạm tội mà có. Do đó, Hội đồng xét xử xác định việc trả nợ giữa L1, C và các cá nhân nêu trên là quan hệ dân sự độc lập, những người này là người thứ ba ngay tình theo Điều 133 Bộ luật Dân sự, nên không có căn cứ buộc họ hoàn trả tiền cho các bị hại trong vụ án hình sự.
Căn cứ các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C, với tổng số tiền 50.068.000.000 đồng.
[3] Về án phí: Bị đơn dân sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Tuyên xử:
Buộc Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 50.068.000.000 đồng (Năm mươi tỷ không trăm sáu mươi tám triệu đồng chẵn), cụ thể:
- Buộc Hồ Thị Hương L1 trả cho bà Nguyễn Thị Thảo D 600.000.000 đồng và ông Phan Thanh D1 10.600.000.000 đồng.
- Buộc Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C liên đới trả cho:
- Bà Phan Thị Thu H 870.000.000 đồng;
- Ông Nguyễn Sỹ P 10.400.000.000 đồng;
- Bà Văn Thị Kim N 6.900.000.000 đồng;
- Bà Hoàng Thị L 4.600.000.000 đồng.
- Buộc Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C trả cho ông Nguyễn Thành T 12.100.000.000 đồng, trong đó nội bộ xác định: Loan 6.425.000.000 đồng, C 5.675.000.000 đồng.
- Buộc Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C trả cho bà Nguyễn Thị H1 3.000.000.000 đồng, trong đó: L1 2.550.000.000 đồng, C 450.000.000 đồng.
- Buộc Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C trả cho ông Hoàng Văn S 998.000.000 đồng, trong đó: L1 723.000.000 đồng, C 275.000.000 đồng.
Tổng cộng, Hồ Thị Hương L1 có nghĩa vụ bồi thường 32.283.000.000 đồng; Dương Tất C có nghĩa vụ bồi thường 17.785.000.000 đồng; Hồ Thị Hương L1 và Dương Tất C phải liên đới chịu trách nhiệm đối với toàn bộ nghĩa vụ bồi thường nêu trên.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật này.
2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc Hồ Thị Hương L1 phải chịu 140.283.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và xử buộc Dương Tất C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 125.785.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Từ Thị Hải Dương |
Bản án số 123/2025/HS-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về phần dân sự trong vụ án hình sự
- Số bản án: 123/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Phần dân sự trong vụ án hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử lại phần dán sự trong vụ án hình sự
