|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 09-12-2025. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.
- Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Thơm.
- Ông Vương Huy Vượng.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thế – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2025/TLST - HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn B, sinh ngày 01/01/1996 tại xã K, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: Bản Sàng, xã K, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn P, sinh năm 1972 và bà: Đèo Thị M, sinh năm 1972; Vợ: Lường Thị H, sinh năm 1999; Con: bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, Tiền sự: Không.
- Nhân thân: Ngày 27/4/2021, Lường Văn B bị UBND xã K, tỉnh Lai Châu áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đến ngày 31/5/2021, Lường Văn B bị Công an huyện T, tỉnh Lai Châu (cũ) xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Lường Văn B đã chấp hành xong các quyết định nêu trên.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/8/2025, ngày 09/8/2025 bị cáo bị tạm giam đến nay, bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nông Thị Minh H1, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 04/8/2025, Lường Văn B đi bộ từ nhà tại bản S, xã K, tỉnh Lai Châu đến bản Đ, xã C, tỉnh Sơn La, mục đích tìm mua Heroine sử dụng. Tại địa phận bản Đán Én, Lường Văn B gặp một người đàn ông không rõ lai lịch. Qua trao đổi, Lường Văn B mua của người đàn ông này 01 gói Heroine với giá 400.000 đồng và 01 gói chất dẻo màu nâu đen (theo B khai là Thuốc phiện) với giá 100.000 đồng. Mua được ma tuý, Lường Văn B mang về lán ở của Bỉnh tại bản Sàng, xã K và nhiều lần lấy gói Heroine cấu ra sử dụng. Số H2 và chất dẻo màu nâu đen chưa sử dụng hết, Bỉnh cất chung trong một lọ nhựa màu nâu đen cất giấu trong túi quần đang mặc không cho ai biết. Đến hồi 10 giờ ngày 06/8/2025, tại lán thuộc bản S, xã K, tỉnh Lai Châu, B lấy gói Heroine ra cấu lấy một ít vào một mảnh nilon màu hồng chuẩn bị sử dụng thì bị Công an xã K, tỉnh Lai Châu phát hiện, lập biên bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ của Lường Văn B 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,42 gam (được gói bằng mảnh nilon màu hồng). Trong đó, có 01 gói Heroine được cất chung trong 01 lọ nhựa màu nâu đen cùng với 01 gói chất dẻo màu nâu đen (được gói bằng mảnh ni lon màu hồng) có khối lượng 0,27 gam.
Bản kết luận giám định số 657/KL-KTHS ngày 08/8/2025 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lường Văn B có tổng khối lượng 0,42 gam là ma túy, loại: Heroine. Mẫu chất dẻo, màu nâu đen có khối lượng 0,27 gam nhưng không tìm thấy chất ma túy trong mẫu gửi đến giám định.
Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS-TU, ngày 28/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu để xét xử Lường Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Đề nghị xử phạt bị cáo Lường Văn B từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 lọ nhựa màu nâu đen; 03 mảnh ni lon màu hồng; 02 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Người bào chữa sau khi phân tích, đánh giá hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Lường Văn B, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì. Bị cáo B đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa và không bổ sung gì thêm.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 10 giờ ngày 06/8/2025, tại bản Sàng, xã K, tỉnh Lai Châu, Lường Văn B đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,42 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã K phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn mà còn làm ảnh hưởng đến đời sống sức khỏe con người, làm gia tăng tệ nạn và các loại tội phạm khác nên cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lường Văn B không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu do đã từng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, do vậy quá trình lượng hình, hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên toà, người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo B được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nên nhận thức pháp luật hạn chế. Hội đồng xét xử xét thấy năm 2021 bị cáo B đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã với thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, bị cáo biết tác hại của ma tuý và nhận thức được ma tuý là chất Nhà nước cấm mua bán, tàng trữ nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do vậy không chấp nhận đề nghị của người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát khu vực 2 – Lai Châu về việc cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại điện Viện kiểm sát khu vực 2 – Lai Châu đề nghị xử phạt bị cáo B mức án từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy quan điểm đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu và người bào chữa đối với bị cáo tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm nông nghiệp, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- - 0,42 gam Heroine và 0,27 chất dẻo màu nâu đen thu giữ của Lường Văn B đã gửi giám định toàn bộ không hoàn lại mẫu vật nên không xem xét giải quyết;
- - 01 lọ nhựa màu nâu đen; 03 mảnh ni lon màu hồng; 02 vỏ bì niêm phong ban đầu là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo B là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn B.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Các đối tượng hành vi liên quan đến vụ án:
- - Về nguồn gốc Heroine, Lường Văn B khai mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch. Quá trình điều tra, không xác định được người này nên không có căn cứ để xử lý.
- - Đối với hành vi tàng trữ 0,27 gam chất nhựa dẻo màu nâu đen theo Lường Văn B khai là Thuốc phiện mục đích để sử dụng. Tại bản kết luận giám định số 657/KL-KTHS ngày 08/8/2025 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: không tìm thấy chất ma túy trong mẫu gửi đến giám định. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với hành vi này của Lường Văn B là đúng quy định pháp luật.
- - Quá trình điều tra lấy lời khai và test ma tuý, Lường Văn B khai có sử dụng chất ma tuý và dương tính đối với chất ma túy. Tuy nhiên qua xác minh Lường Văn B không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự nên Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý đối với Lường Văn B về tội sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Lường Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lường Văn B 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thư bên trong đựng 01 lọ nhựa màu nâu đen, 03 mảnh nilon màu hồng và 02 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 15 phút, ngày 08/12/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Lai Châu).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn B.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS
