Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 118/2025/HN-ST

Ngày: 31/12/2025

V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Dương

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Ly, ông Huỳnh Văn Dứt;

Thư ký phiên tòa: bà Lê Nguyễn Phương Vy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thảo, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 91/2025/TLST-HN ngày 01 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 355/2025/QĐXXST-HN ngày 26 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 353/2025/QĐST-HN, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Đặng Thị Ngọc T, sinh năm 1988, cư trú: 47/3, khóm Nguyễn Du, phường LX, tỉnh An Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: ông Phan Văn Nh, sinh năm 1989, cư trú: ấp Mỹ Hội, xã Nhơn Mỹ, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc T trình bày:

Bà và ông Phan Văn Nh do mai mối, tiến đến hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường Long Xuyên, tỉnh An Giang) vào ngày 15/9/2020. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do công việc làm ăn thất bại, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chồng không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2020 đến nay không tới lui thăm nhau. Thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn Nh; Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Phan Quang M, sinh ngày 04/8/2020, hiện nay bà đang chăm sóc nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phan Văn Nh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - An Giang phát biểu:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
  • Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về việc giải quyết vụ án:
  • Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông Nh. Bà T được tiếp tục chăm sóc con chung Phan Quang M, sinh ngày 04/8/2020, ông Nh không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Bà Đặng Thị Ngọc T khởi kiện ly hôn với ông Phan Văn Nh, ông Nh có nơi cư trú ấp MH, xã NM, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang.

Nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phan Văn Nh đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông Nh quen biết tìm hiểu nhau sau đó tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường MB, thành phố LX, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường LX, tỉnh An Giang) vào ngày 15/9/2020 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Nh là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà T cho rằng vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông Nh làm ăn thất bại, nên thường xuyên cãi nhau, ông Nh không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân khoảng 05 năm nay. Bà xác định tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với ông Phan Văn Nh. Hội đồng xét xử xét thấy, ông Phan Văn Nh đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà T, cũng như tạo điều kiện hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Trong thời gian ly thân vợ chồng không tới lui thăm nhau để hàn gắn tình cảm, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Mặc khác, bà T xác định không còn tình cảm với chồng nếu tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Ngọc T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Bà T xác định bà và ông Nh có 01 con chung tên Phan Quang M, sinh ngày 04/8/2020, hiện cháu M đang sống với bà T. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông Nh cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, việc giao con cho cha hoặc mẹ chăm sóc nuôi dưỡng phải căn cứ vào điều kiện sinh sống, phát triển cũng như nguyện vọng của con. Từ lúc vợ chồng ly thân đến nay bà T là người trực tiếp nuôi con chung nên tình cảm, tâm tư gắn liền với người nuôi dưỡng, thời gian chung sống với bà T cháu M vẫn phát triển bình thường về thể chất, tinh thần, đồng thời được bà T tạo điều kiện cho đi học. Do đó, cần để bà T được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí sơ thẩm: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thâm theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Ông Nh không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - An Giang;

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Ngọc T.

- Về quan hệ hôn nhân: cho bà Đặng Thị Ngọc T được ly hôn với ông Phan Văn Nh.

- Về quan hệ con chung:

Bà Đặng Thị Ngọc T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Phan Quang M, sinh ngày 04/8/2020. Ông Phan Văn Nh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Đặng Thị Ngọc T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phan Văn Nh trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về án phí sơ thẩm:

Bà Đặng Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002546 do Phòng T hành án dân sự khu vực 11 - An Giang cấp ngày 29 tháng 9 năm 2025.

Ông Phan Văn Nh không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được T hành theo quy định tại Điều 2 Luật T hành án dân sự thì người được T hành án dân sự, người phải T hành án dân sự có quyền thỏa thuận T hành án, quyền yêu cầu T hành án, tự nguyện T hành án hoặc bị cưỡng chế T hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật T hành án dân sự, thời hiệu T hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật T hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND khu vực 11 - AG;
  • - Phòng THADS khu vực 11 - AG;
  • - UBND phường Long Xuyên, tỉnh An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 118/2025/HN-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 118/2025/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Đặng Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Phan Văn Nh do mai mối, tiến đến hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (nay là Ủy ban nhân dân phường Long Xuyên, tỉnh An Giang) vào ngày 15/9/2020. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do công việc làm ăn thất bại, nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, chồng không quan tâm chăm sóc vợ con nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2020 đến nay không tới lui thăm nhau. Thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu ly hôn với ông Phan Văn Nh; Về con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Phan Quang M, sinh ngày 04/8/2020, hiện nay bà đang chăm sóc nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn ông Phan Văn Nh đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông vắng mặt không lý do nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger