Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 – AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 116/2025/DS-ST

Ngày: 31/12/2025

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Hiển và ông Nguyễn Thanh Trang

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Huỳnh Anh, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 13 - An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 13 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 321/2025/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 566/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P; trụ sở chính: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số G, Nguyễn Văn T, phường C, tỉnh An Giang.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: ông Phan Hữu T1, sinh năm 1991, chức vụ: Chuyên viên thu hồ nợ -RB (THN); địa chỉ liên hệ: số G, Nguyễn Văn T, phường C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Cao Thị Trúc G, sinh năm 1990; địa chỉ: số A, tổ D, ấp K, xã M, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 30/6/2021, giữa bà Cao Thị Trúc G với Ngân hàng TMCP P - Phòng G1 có ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng. Theo đó, bà G vay số tiền 20.000.000 đồng, mục đích vay: mua hàng trực tuyến, thời hạn vay: 60 tháng, Lãi suất cho vay trong hạn 30%/năm, lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn.

Sau khi ký hợp đồng, Ngân hàng đã cấp hạn mức và đã giải ngân cho bà G. Quá trình thực hiện hợp đồng bà G vi phạm nghĩa vụ của người vay. Tính đến ngày 08/12/2025, bà G còn nợ tổng số tiền 107.353.753 đồng, trong đó nợ gốc là 18.501.000 đồng, lãi 61.679.637 đồng, phí 27.173.116 đồng. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà G có trách nhiệm trả đủ số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP P. Đồng thời buộc bà G có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi từ ngày 09/12/2025 cho đến khi trả dứt nợ.

Tòa án tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bên không nhất phương thức thanh toán nên hoà giải không thành.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn có văn bản trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bà G có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 31/12/2025 là 107.353.753 đồng, (trong đó nợ gốc: 18.501.000 đồng, lãi 61.679.637 đồng, phí 27.173.116 đồng), đồng thời, tiếp tục trả lãi, phí phát sinh từ ngày 01/01/2026 theo mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, thỏa thuận vay nợ giữa Ngân hàng với bà G được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có lập hợp đồng, phù hợp quy định pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả cho Ngân hàng số tiền vốn, lãi, phí tính đến hết ngày 31/12/2025 là 107.353.753 đồng, tiếp tục trả lãi, phí phát sinh từ ngày 01/01/2026 theo mức lãi suất thỏa thuận quy định trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong là có căn cứ.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100,103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với bị đơn có địa chỉ xã M, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 – An Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2025).

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung:

[3] Ngân hàng khởi kiện cho rằng bà G đã ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngày 28/6/2021 và cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh là giấy đề nghị vay vốn, bảng kê tính lãi....Quá trình giải quyết vụ án, bà G cung cấp lời khai thống nhất các nội dung theo đơn khởi kiện của Ngân hàng và thừa nhận còn nợ vốn vay, tiền lãi như theo đơn khởi kiện của Ngân hàng.

Xét, Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngày 28/6/2021 giữa Ngân hàng với bà G được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

[4] Về vốn vay và tiền lãi: Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngày 28/6/2021 giữa Ngân hàng và bà G; lời khai đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng và lời khai của bà G xác định vốn vay 20.000.000 đồng.

Theo trình bày của đại diện Ngân hàng, từ khi giải ngân đến ngày 31/12/2025, bà G còn nợ Ngân hàng 107.353.753 đồng, trong đó nợ gốc: 18.501.000 đồng, lãi 61.679.637 đồng, phí 27.173.116 đồng).

Từ ngày 10/10/2022 trở đi bà G không thanh toán gốc, lãi đúng hạn. Bà G bị quá hạn gốc, lãi và không có khả năng chỉ trả. Bà G không thực hiện việc trả nợ đúng hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký và đã nhiều lần hứa hẹn nhưng không có khả năng thanh toán.

Thấy rằng, giữa Ngân hàng với bà G có giao kết hợp đồng tín dụng vay tiền. Quá trình vay do bà G không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay.

Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà G có trách nhiệm trả vốn vay và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 103 của Luật các tổ chức tín dụng, xét chấp nhận.

Buộc bà Cao Thị Trúc G có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến hết ngày 31/12/2025 là 107.353.753 đồng, trong đó nợ gốc: 18.501.000 đồng, lãi 61.679.637 đồng, phí 27.173.116 đồng).

“Kể từ ngày 01/01/2026, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo:

- Bị đơn có trách nhiệm trả vốn và lãi cho Ngân hàng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.367.500 đồng.

- Ngân hàng được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 103 của Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 147, 273, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần P.

Buộc bà Cao Thị Trúc G trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P số tiền tính đến hết ngày 31/12/2025 là 107.353.753 đồng, trong đó nợ gốc: 18.501.000 đồng, lãi 61.679.637 đồng, phí 27.173.116 đồng) theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngày 28/6/2021.

“Kể từ ngày 01/01/2026, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn bà Cao Thị Trúc G phải chịu 5.367.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng TMCP P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP P số tiền 2.631.800đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai 0005223 ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.

[3] Về quyền kháng cáo:

Thời gian kháng cáo của các đương sự là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND KV13-AG (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Phòng THADS KV13-AG (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 116/2025/DS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 116/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Đông. Buộc bà Cao Thị Trúc Giang trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Đông số tiền tính đến hết ngày 31/12/2025 là 107.353.753 đồng, trong đó nợ gốc: 18.501.000 đồng, lãi 61.679.637 đồng, phí 27.173.116 đồng) theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng ngày 28/6/2021. “Kể từ ngày 01/01/2026, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger