Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

Bản án số: 105/2025/HS-ST

Ngày 18-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lành Văn Khánh

Ông Dương Việt Hưng.

Thư ký phiên tòa: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Kỳ Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn M (tên gọi khác: Không có); sinh ngày 07 tháng 02 năm 1994 tại tỉnh Sơn La; số Căn cước công dân: [...], cấp ngày 09/5/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn H (đã chết) và bà Lò Thị S; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa lần nào bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2025 đến nay tại Phân trại tạm giam Na Sầm, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

Bị hại: Anh Tòng Văn Đ, sinh ngày 08/10/1990; địa chỉ: Bản H, xã C, tỉnh Sơn La; có mặt.

Người làm chứng:

  • + Anh Tòng Văn P, sinh ngày 06/7/2002; vắng mặt.
  • + Anh Tòng Văn Q, sinh ngày 03/5/2002; có mặt.
  • + Anh Hà Văn L, sinh ngày 13/6/1990; vắng mặt.
  • + Anh Lò Văn D, sinh ngày 16/5/2004; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tòng Văn Đ và Lò Văn M là công nhân đang thi công tại công trường xây dựng khu trung chuyển Logistics thuộc thôn K, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 19 giờ ngày 06/7/2025, Tòng Văn Đ ăn cơm, uống rượu với Lò Văn M; Lò Văn D sinh năm 2004, Tòng Văn Q, sinh năm 2002; Hà Văn L, sinh năm 1990; Tòng Văn P, sinh năm 2002 và một số người khác tại lán của công trường xây dựng khu trung chuyển Logistics. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, sau khi ăn xong L, M, Đ, P, Q đi lên ngôi nhà 03 tầng đang xây dựng để nằm nghỉ tại tầng hai, còn D đi lấy bình nước lọc ở tầng một. Một lúc sau, Tòng Văn Đ nói chuyện với Lò Văn M về bản vẽ công trình thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Tòng Văn Đ dùng chân đạp một phát vào ngực khiến Lò Văn M ngã nghiêng sang trái. Sau đó, Lò Văn M đứng dậy và cầm lấy một thanh kim loại dạng ống cạnh đó để đánh Tòng Văn Đ. Khi Lò Văn M vừa vung gậy lên đập thì Tòng Văn Q chạy ra đứng phía trước Tòng Văn Đ để can ngăn, lúc này Lò Văn M đã vung tay cầm thanh sắt đập chéo ngang trúng vào người Q và trúng tay trái Tòng Văn Đ gây rách da chảy máu.

Nghe thấy ồn ào phía trên tầng D chạy lên tầng hai để xem có việc gì. Khi lên đến nơi thì D thấy Tòng Văn Đ với Lò Văn M đang xảy ra xô xát đánh nhau tại vị trí kê phản để ngủ nên D đã chạy vào can ngăn. Quá trình Tòng Văn Đ và Lò Văn M xô đẩy nhau khiến dây điện bóng đèn bị tuột dẫn đến mất đèn điện, lúc này Lò Văn M và Tòng Văn Đ đang đứng đối diện nhau còn D đứng giữa phía trước mặt Lò Văn M và Tòng Văn Đ. Trong khoảng thời gian mất điện, D đang quay lưng lại về phía Tòng Văn Đ và Lò Văn M để bảo P cắm lại dây điện thì bị đấm một phát vào phía sau vai bên phải. Khi điện sáng lại, D thấy Tòng Văn Đ đứng đằng sau mình, nghĩ Tòng Văn Đ đánh mình nên đã dùng tay phải đấm 01 phát vào mắt phải Tòng Văn Đ khiến Tòng Văn Đ bị đau và cúi người về trước nhưng không bị ngã. Ngay sau đó, Lò Văn M dùng hai tay cầm thanh giàn giáo đập 01 phát hướng từ trên xuống về phía người Tòng Văn Đông trúng vùng đầu của Tòng Văn Đ khiến Tòng Văn Đ ngã nằm bất động trên phản, Lò Văn M vứt gậy cạnh đó rồi đi xuống tầng một, khoảng 02 phút sau Tòng Văn Đ tỉnh, Lò Văn M đến bảo Tòng Văn Đ đi Bệnh viện để khám nhưng Tòng Văn Đ không chịu và lên giường đi ngủ. Đến ngày 08/7/2025 Tòng Văn Đ nhập viện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L điều trị.

Ngày 15/7/2025, Tòng Văn Đ có đơn yêu cầu khởi tố đối với vụ việc cố ý gây thương tích trên. Cùng ngày, Lò Văn M giao nộp 01 thanh kim loại dạng ống dài 113,2cm, đường kính 04cm, hai đầu gắn kim loại mỏng dài 85cm, bề mặt bám dính xi măng và đất.

Quá trình điều tra xác định trong khoảng thời gian từ tối ngày 06/7/2025 đến khi nhập viện Tòng Văn Đ chỉ ở lán nghỉ của công trình, không xảy ra xô xát đánh nhau với ai, không bị tai nạn hoặc thương tích gì khác.

Tại bản Kết luận giám định số: 202/KLTTCT-TTPY ngày 17/7/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể (giám định tại thời điểm) đối với Tòng Văn Đ như sau:

  • - Vết mổ vùng thái dương đỉnh chẩm trái: 02%.
  • - 02 sẹo cánh tay trái 02%.
  • - Vỡ xương sọ vùng thái dương đỉnh trái: 08%.
  • - Tụ máu ngoài mảng cứng vùng thái dương đỉnh trái: 05%.

Tổng tỉ lệ tổn thương tại thời điểm giám định là 16% (mười sáu phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 239/KLTTCT-TTPY ngày 03/9/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận tổn thương cơ thể trên người sống kết luận:

  • - Sẹo vết mổ vùng thái dương đỉnh chẩm trái: 02%;
  • - 02 sẹo vết xước cánh tay trái: 02%;
  • - Khuyết xương sọ vùng thái dương đỉnh trái được vá bằng mảnh xương, điện não đồ biến đổi nhẹ: 35%;
  • - Tổn thương não vùng trán phải, sau mổ không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 11%;
  • - Tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương đỉnh trái, sau mổ không còn hình ảnh tổn thương trên chẩn đoán hình ảnh: 05%;

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể: 47% (bốn mươi bảy phần trăm). Cơ chế hình thành thương tích: do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Tại Công văn số 41/PY-GĐ ngày 06/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh L trả lời: với tình trạng tổn thương sọ não của Tòng Văn Đ nếu không được cấp cứu và xử lý kịp thời sẽ dẫn đến tình trạng tăng áp lực nội sọ, thiếu oxy não, rối loạn trung tâm hô hấp – tuần hoàn có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Vật chứng thu giữ: 01 thanh kim loại dạng ống, đặc điểm: Chiều dài 133,2cm, đường kính 04cm, hai đầu gắn kim loại mỏng 8,5cm, bề mặt bám dính xi măng và đất.

Về dân sự: Tòng Văn Đ yêu cầu bồi thường dân sự tổng số tiền 426.500.000 đồng. Đến nay, bị can chưa thực hiện việc bồi thường.

Với nội dung vụ việc như trên, tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKS, ngày 18/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lò Văn M về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn M khai tối ngày 06/7/2025, do đã uống rượu không làm chủ bản thân nên đã gây thương tích cho anh Tòng Văn Đ, bị cáo không có ý định tước đoạt tính mạng của anh Tòng Văn Đ. Bị cáo thừa nhận tội danh như Cáo trạng truy tố, thừa nhận được thực hiện hành vi gây thương tích cho anh Tòng Văn Đ và chịu trách nhiệm bồi thường đối với anh Tòng Văn Đ. Tuy nhiên, mức yêu cầu bồi thường thiệt hại bị hại đưa ra 426.500.000 đồng là quá cao, bị cáo chỉ có khả năng bồi thường 100.000.000 đồng.

Bị hại khai: Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước. Tối ngày 06/7/2025 là sinh nhật của em trai là Tòng Văn P, nên cả nhóm ăn và uống rượu, bia. Sự việc xảy ra đánh nhau giữa bị cáo, bị hại và người khác như thế nào thì bị hại không nhớ gì, đến hôm sau ngày 07/7/2025 khi bị cáo nhận thức được thì đã thấy mình ở trong bệnh viện và thấy bố bị hại đang chăm sóc cho mình. Về tỷ lệ bị hại bị thương tích thì không thắc mắc kết luận giám định. Bị hại Tòng Văn Đ yêu cầu bị cáo bồi thường cho mình tổng số tiền 426.500.000 đồng.

Người làm chứng Tòng Văn Q, Lò Văn D khai sự việc diễn ra như bị cáo đã khai tại phiên tòa là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn M hình phạt từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại dạng ống, đặc điểm: Chiều dài 133,2cm, đường kính 04cm, hai đầu gắn kim loại mỏng 8,5cm, bề mặt bám dính xi măng và đất.

Về bồi thường dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự, đề nghị buộc bị cáo Lò Văn M phải bồi thường cho anh Tòng Văn Đ tổng số tiền từ 115.359.000 đồng đến 137.059.000 đồng.

Tại phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Lò Văn M thừa nhận gây thương tích cho anh Tòng Văn Đ bằng ống sắt, nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, hình phạt đề nghị, không tranh luận. Về bồi thường số tiền bị hại yêu cầu là quá cao, bị cáo chỉ có khả năng bồi thường 100.000.000 đồng, nên đề nghị giải quyết các khoản bồi thường theo quy định của pháp luật.

Bị hại không tranh luận:

Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tam gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/7/2025, tại công trường xây dựng khu T thuộc thôn K, xã Đ, tỉnh Lạng Sơn, do mâu thuẫn, giữa Tòng Văn Đ và Lò Văn M xảy ra đánh nhau. Bị cáo Lò Văn M có hành vi dùng thanh kim loại đánh Tòng Văn Đ vào vùng thái dương đỉnh chẩm trái, gây tổn thương cơ thể Tòng Văn Đ 47%. Xét về mục đích, cường độ, tính chất của hành vi: Nguyên nhân xảy ra sự việc là do Tòng Văn Đ dùng chân đạp bị can Lò Văn M trước dẫn đến hành động bột phát của bị cáo đã dùng thanh kim loại vụt 01 (một) phát về phía bị hại Tòng Văn Đ. Thời điểm xảy ra vụ việc, tại hiện trường có ánh sáng yếu, bản thân bị cáo Lò Văn M không chủ ý nhắm vào vùng nguy hiểm trên người Tòng Văn Đ. Sau khi nhận thấy đã đánh trúng Tòng Văn Đ, bị cáo đã dừng lại, vứt thanh kim loại đi, không thể hiện sự quyết liệt tấn công bị hại. Ngay sau khi xảy ra sự việc, bị cáo Lò Văn M cũng đã chủ động bảo bị hại Tòng Văn Đ đi viện để khám, điều trị. Do đó, hành vi trên của Lò Văn M không cấu thành tội Giết người. Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với diễn biến vụ việc, lời khai bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ trong vụ án và các tài liệu chứng cứ khác, ngoài bị cáo thì vết thương trên cơ thể bị hại không có ai khác gây ra. Do đó, đủ căn cứ kết luận Lò Văn M có hành vi cầm ống sắt đập vào vùng đầu anh Tòng Văn Đ, gây thương tích cho anh Tòng Văn Đ với tổng tỷ lệ 47%, hành vi của bị cáo Lò Văn M đã phạm tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung là “dùng hung khí nguy hiểm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
  3. [3] Đánh giá tính chất vụ án, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo như sau:
  4. [4] Bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo dùng ống sắt cố ý gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật 47% là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trái phép tính mạng, sức khỏe của con người là quyền được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo còn làm mất an ninh, trật tự xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo hoàn toàn là lỗi cố ý.
  5. [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  6. [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo là dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  7. [7] Về nhân thân: Trước lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, bị cáo không có tiền án, tiền sự, được xác định là người có nhân thân tốt.
  8. [8] Đánh giá các căn cứ quyết định hình phạt như trên, thấy cần thiết xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
  9. [9] Về trách nhiệm bồi thường: Tại giai đoạn điều tra, truy tố bị hại yêu cầu bồi thường tổng các khoản thiệt hại với số tiền 426.500.000 đồng; tại phiên tòa bị hại thay đổi chỉ yêu cầu bồi thường tổng 300.000.000 đồng; nhưng bị cáo chỉ đồng ý bồi thường 100.000.000 đồng. Bị hại làm lao động tự do, thời điểm xảy ra vụ việc làm công nhân xây dựng. Các bên không thỏa thuận được về bồi thường, nên Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Bị hại phải tự chịu một phần tiền bồi thường thiệt hại do có lỗi của mình gây ra vì có hành vi đạp bị cáo trước. Do đó, chấp nhận các khoản bồi thường thiệt hại về sức khỏe của bị hại như sau:
    • [9.1] Tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở, không có hóa đơn, chấp nhận chi phí hợp lý: Thuê xe cứu thương từ khu T thuộc thôn K, xã Đ đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh L ngày 08/7/2025 và thuê xe từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh L về nơi ở Bản H, xã C, tỉnh Sơn La là 5.000.000 đồng.
    • [9.2] Tiền viện phí (có hóa đơn): Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh L ngày 18/7/2025 là 775.800 đồng. Các hóa đơn mua thuốc, thực phẩm dinh dưỡng (hóa đơn thường): Ngày 09/7/2025 là 1.500.000 đồng; ngày 10/7/2025 là 4.200.000 đồng; ngày 11/7/2025 là 3.600.000 đòng; ngày 12/7/2025 là 3.400.000 đồng; ngày 13/7/2025 là 4.200.000 đồng; ngày 14/7/2025 là 5.100.000 đồng; ngày 15/7/2025 là 4.100.000 đồng; ngày 16/7/2025 là 1.620.000 đồng; ngày 17/7/2025 là 1.450.000 đồng; ngày 22/7/2025 là 1.225.000 đồng; ngày 12/8/2025 là 2.445.000 đồng; ngày 18/8/2025 là 1.130.000 đồng; ngày 18/9/2025 là 4.500.000 đồng; tổng tiền theo các hóa đơn là: 39.245.800 đồng, nhưng các hóa đơn này không có chỉ định của bác sĩ, hóa đơn không hợp lệ. Tuy nhiên, với mức tổn thương cơ thể bị hại 47%, nên Hội đồng xét xử chấp nhận chi phí mua thuốc hợp lý với số tiền 25.000.000 đồng.
    • [9.3] Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần bị hại bằng 35 lần mức lương cơ sở là 35 x 2.430.000 đồng mức lương cơ sở/01 tháng = 85.050.000 đồng.
    • [9.4] Lương tối thiểu vùng tại nơi người bị hại cư trú (Bản H, xã C, tỉnh Sơn La) 6 tháng cuối năm 2025 có mức 3.860.000 đồng/tháng chia cho 26 ngày thì thu nhập trung bình 148.500 đồng/ngày và tại nơi cơ sở khám bệnh chữa bệnh (Bệnh viện Đ tại phường K, tỉnh Lạng Sơn) 6 tháng cuối năm 2025 có mức lương tối thiểu vùng là 3.450.000 đồng/tháng chia cho 26 ngày thì thu nhập trung bình 133.000 đồng/ngày (làm tròn).
    • [9.5] Tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe bị hại tính bằng 02 tháng; 01 ngày bằng 01 ngày lương tối thiểu vùng. Tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Bệnh viện Đa khoa phường K, tỉnh Lạng Sơn) là 133.000 đồng/ngày x 10 ngày = 1.330.000 đồng. Tại nơi cư trú trong 50 ngày x 148.500 đồng/ngày = 7.425.000 đồng. Tổng là 8.755.000 đồng.
    • [9.6] Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của bị hại tính bằng 5 tháng. Tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Bệnh viện Đa khoa phường K, tỉnh Lạng Sơn) 10 ngày = 133.000 đồng/ngày x 10 = 1.330.000 đồng. Tại nơi cư trú trong 140 ngày x 148.500 đồng/ngày = 20.790.000 đồng. Tổng là 22.120.000 đồng.
    • [9.7] Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại: Bị hại khai có bố đẻ và chị gái thay nhau chăm sóc trong thời gian đi Bệnh viện cứu chữa; bố đẻ và chị gái đều làm nông nghiệp. Do đó, chấp nhận phần thu nhập thực tế bị mất cho 01 người chăm sóc trong 10 ngày. Căn cứ lương tối thiểu vùng tại thời điểm nơi người bị hại điều trị là 133.000 đồng/ngày. Số tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc tổng 10 ngày x 133.000 đồng/ngày = 1.330.000 đồng.
    • [9.8] Chi phí đi lại hợp lý của người chăm sóc, trong thời gian chăm sóc bị hại: 1.000.000 đồng.
    • [9.9] Tổng số tiền các khoản được bồi thường là: 148.255.000 đồng.
    • [9.10] Đối với các khoản tiền không có hóa đơn chứng từ; khoản tiền mua lợn, rượu, gạo, bánh, chi cho thầy mo làm lễ rửa hồn pháp luật không quy định; phí tiền ăn của người chăm sóc đã được tính trong khoản tiền phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc; tiền phí đi lại của người nhà chăm sóc tính quá cao, không có hóa đơn chứng từ, nên không được chấp nhận.
  10. [10] Vật chứng: 01 thanh kim loại dạng ống, đặc điểm: Chiều dài 133,2cm, đường kính 04cm, hai đầu gắn kim loại mỏng 8,5cm, bề mặt bám dính xi măng và đất, đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
  11. [11] Đối với Lò Văn D khi mới xảy ra vụ việc xô xát đánh nhau giữa Tòng Văn Đ và Lò Văn M thì D không có mặt tại hiện trường, đến khi quay lại nhìn thấy Đ và M đang xô xát đánh nhau thì Lò Văn D chạy vào căn ngăn. Trong khoảng thời gian mất điện D bị đấm 01 (một) phát vào phía sau vai bên phải, nên D lầm tưởng Đ đấm mình và theo phản xạ Lò Văn D đã dùng tay đấm 01 (một) phát vào mắt phải Tòng Văn Đ khiến mi trên, mi dưới mắt phải Tòng Văn Đ bị bầm tím. Trước đó, Lò Văn D không có mâu thuẫn gì với Tòng Văn Đ, khi can ngăn không có ý định đánh Tòng Văn Đ, chỉ khi mất điện nghĩ rằng Tòng Văn Đ đánh mình nên mới đánh Tòng Văn Đ, việc Lò Văn D dùng tay đấm Tòng Văn Đ là do bột phát, không nhằm giúp sức Lò Văn M, mặt khác tại các Kết luận giám định không có tổn thương trên cơ thể Tòng Văn Đ do Lò văn D gây ra. Cơ quan điều tra đã chuyển hành vi của Lò Văn D đến Công an xã Đ để xử lý theo quy định.
  12. [12] Đối với Tòng Văn Q khi vào can ngăn vụ xô xát đánh nhau giữa Lò Văn M và Tòng Văn Đ đã bị Lò Văn M dùng thanh kim loại (thanh giàn giáo) đập chéo ngang vào người; đối với Lò Văn M bị Tòng Văn Đ dùng chân đạp vào người: Tòng Văn Q và Lò Văn M đều không có tổn thương, không có yêu cầu đề nghị xử lý hoặc bồi thường sức khỏe nên không xem xét xử lý.
  13. [13] Bị cáo bị kết án và phải bồi thường thiệt hại sức khỏe nên phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  14. [14] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
  15. [15] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 135, điểm b khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn M phạm tội Cố ý gây thương tích.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn M 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 15/7/2025.
  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm: Buộc bị cáo Lò Văn M phải bồi thường cho bị hại Tòng Văn Đ số tiền 148.255.000 đồng (một trăm bốn mươi tám triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 01 thanh kim loại dạng ống, đặc điểm: Chiều dài 133,2cm, đường kính 04cm, hai đầu gắn kim loại mỏng 8,5cm, bề mặt bám dính xi măng và đất.

(Vật chứng trên đang được quản lý tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Lạng Sơn, theo mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2025).

  1. Án phí: Buộc bị cáo Lò Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và 7.413.000đ (bảy triệu bốn trăm mười ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự nộp ngân sách Nhà nước.
  2. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND khu vực 1 - Lạng Sơn;
  • - Phòng THADS khu vực 1, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hải Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 105/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger