|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Đào phúc |
Bản án số: 100/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 25-12-2025
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Ngô Thị Lắm.
- Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Võ Lâm Sơn;
- 2. Bà Trần Thị Kim Thoa.
Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm, là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 158/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 350/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 349/2025/QĐ-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng Đ, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: số C, ấp A, xã H, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: số A, ấp V, xã V, thành phố Cần Thơ; số căn cước công dân: 09218504462, ngày 08/7/2025 do Bộ C cấp.
Bị đơn: Ông Lê Văn Y, sinh năm 1982; địa chỉ: số C, ấp A, xã H, tỉnh An Giang; số căn cước công dân: [...], ngày 12/8/2021 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng Đ trình bày:
Bà Đ và ông Y do quen biết, tìm hiểu nhau và kết hôn với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C (nay là xã H). Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh được con chung tên Lê Văn N, sinh ngày 11/6/2006. Hiện tại, cháu N đã thành niên có khả năng lao động nuôi sống bản thân.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Y T hay nhậu nhẹt, không chăm lo cho vợ con, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà Đ và ông Y không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2024 đến nay.
Nhận thấy tình cảm không còn nên bà Đ yêu cầu ly hôn với ông Y; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với con chung Lê Văn Nguyên D đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
- Bị đơn ông Lê Văn Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng Đ có đơn xin xét xử vắng mặt và không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án và không gửi văn bản trình bày văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề xuất: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Mộng Đ đối với ông Lê Văn Y.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Mộng Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn Y, ông Y cư T1 trên địa bàn xã H, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị Mộng Đ, ông Lê Văn Y đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng bà Đ có đơn xin vắng mặt, ông Y vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ theo quy định khoản 1 Điều 228, xét xử vắng mặt ông Y theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Mộng Đ khai, bà Đ và ông Y do quen biết, tìm hiểu nhau và kết hôn với nhau vào năm 2006, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã H) nên quan hệ hôn nhân giữa bà Đ và ông Y là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà Đ xác định, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông Y T hay nhậu nhẹt, không quan tâm đến vợ con, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng và không còn sống chung từ đầu năm 2024 cho đến nay.
Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà Đ và ông Y bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên xảy ra cãi vã nhau, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau từ đầu năm 2024 đến nay. Mặc khác, ông Y cũng không có ý kiến phản đối về yêu cầu ly hôn của bà Đ. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà Đ và ông Y là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ đối với ông Y theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung:
Bà Đ xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Lê Văn N, sinh ngày 11/6/2006. Hiện tại, cháu N đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Xét thấy, cháu N đã thành niên và bà Đ cũng không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
Bà Đ không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông Y không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 144, 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mộng Đ.
- - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mộng Đ được ly hôn với ông Lê Văn Y.
- - Về con chung: Do con chung Lê Văn N, sinh năm 2006 đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không đề cập giải quyết việc nuôi dưỡng con chung.
- Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Mộng Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003326 do Thi hành án dân sự tỉnh An Giang cấp ngày 07 tháng 10 năm 2025. Bà Nguyễn Thị Mộng Đ đã nộp đủ án phí.
Ông Lê Thanh Y1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị Mộng Đ, ông Lê Văn Y có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Lắm |
5
Bản án số 100/2025/HNGĐ-ST ngày 25/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
- Số bản án: 100/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đào yêu cầu ly hôn với ông Y
