|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 07/2026/HS-ST
Ngày 09/01/2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng
Bà Hoàng Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 183/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 2005.Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường C, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Sinh viên; Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Nguyễn Văn L, sinh năm 1976. Mẹ: Phạm Thị L1, sinh năm 1982; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai;Tiền án, tiền sự: Không.Nhân thân: Không
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2025 đến ngày 17/12/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. ( Có mặt)
*Bị hại:
-
Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1997 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
-
Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Trần Mạnh H, sinh năm 1957 ( Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà C, đường N, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
-
Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1976 ( Có mặt)
Địa chỉ: Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường C, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi chiều ngày 12/9/2025, Nguyễn Văn T, sinh năm 2005, trú tại tổ dân phố B, phường C, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô biển số 30K2-2765 đi từ thành phố Hà Nội đến thuê phòng 202 nhà trọ Sao Mai của gia đình ông Trần Mạnh H, sinh năm 1957 địa chỉ số nhà C, đường N, phường B, tỉnh Bắc Ninh để nghỉ. Do không có tiền chi tiêu nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại các phòng trọ.
Khoảng 10 giờ ngày 14/9/2025, T đi đến các phòng của nhà trọ mục đích để trộm cắp tài sản. Khi T đi đến phòng 401 của anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1997, trú tại thôn Đ, xã L, tỉnh Bắc Ninh và phòng 502 của anh Bùi Văn T1, sinh năm 1993, trú tại tại thôn C, xã L, tỉnh Bắc Ninh thì thấy khoá cửa ngoài nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại 2 phòng này. Do khi đến thuê phòng, T được ông H giao cho 01 chìa khóa và biết chủ nhà trọ còn giữ chìa khóa dự phòng của các phòng trọ để tại quầy lễ tân tầng 1. T đi xuống quầy lễ tân thấy không có người nên lẻn vào lấy chiếc hộp đựng chìa khóa các phòng rồi đi lên dùng chìa khoá mở phòng 401. T đi vào trong phòng quan sát thấy trên mặt bàn có một chiếc túi màu đen nên mở ra kiểm tra thấy bên trong có một chiếc ví, trong ví có số tiền 1.050.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. T trộm cắp toàn bộ số tiền này cho vào túi đeo rồi tiếp tục đi lên tầng 5, dùng chìa khoá mở cửa phòng 502. T đi vào trong thấy trên ghế có một chiếc ba lô nên mở ra thấy bên trong có một chiếc ví, trong ví có số tiền 430.000 đồng, 01 thẻ ATM ngân hàng V, 01 thẻ ATM ngân hàng V1, 01 thẻ ATM ngân hàng M, 01 thẻ ATM ngân hàng V2 và 01 căn cước công dân mang tên Bùi Văn T1. T lấy 04 chiếc thẻ ATM và số tiền này cho vào túi đeo rồi đi ra ngoài, khoá cửa phòng, để chìa khóa tại quầy lễ tân. Khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, T thanh toán tiền, trả phòng rồi đi đến quán Internet tại số nhà B, đường N, phường B chơi điện tử.
Khoảng hơn 20 giờ 30 phút cùng ngày, T đi xe mô tô đến cây ATM của Ngân hàng TMCP N chi nhánh C trên đường N, phường C, thành phố Hải Phòng để thử rút tiền. T cắm lần lượt 04 chiếc thẻ ATM vào cây và nhập mật mã là “1993” (là năm sinh của anh T1) thì có chiếc thẻ của ngân hàng TMCP N có số tài khoản “0351001128036” xác nhận đúng mật mã. T đã thực hiện thao tác rút 05 lần với tổng số tiền là 43.400.000 đồng (04 lần đầu rút mỗi lần 10.000.000 đồng, lần thứ 5 rút 3.400.000 đồng). Sau đó, T đi xe mô tô đến thành phố T, tỉnh Thái Nguyên chơi và chi tiêu hết.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, anh Bùi Văn T1 đi làm về phát hiện bị trộm cắp tài sản nên đã làm đơn trình báo Công an phường B và giao nộp bản sao kê tài khoản ngân hàng V1, các ảnh chụp giao dịch rút tiền.
Ngày 09/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B triệu tập Nguyễn Văn T để làm việc thì T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn T, 01 thẻ ATM V1, 01 thẻ ATM V2, 01 thẻ ATM VIB đều mang tên Bùi Văn T1, 01 túi da màu đen có dây đeo bằng vải màu đen.
Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND phường B kết luận:
- Chi phí cấp lại 01 thẻ ghi nợ nội địa của Ngân hàng TMCP C1 là 50.000 đồng.
- Chi phí cấp lại 01 thẻ ghi nợ nội địa của Ngân hàng TMCP N là 50.000 đồng.
- Chi phí cấp lại 01 thẻ ghi nợ nội địa của Ngân hàng TMCP Q là 55.000 đồng.
- Không có căn cứ định phí cấp lại 01 thẻ Icard của Ngân hàng TMCP Q1 (bút lục 25-26)
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 01 file video trích xuất từ cây ATM số 17 Ngân hàng TMCP N-Chi nhánh C.
Kết luận giám định số 3641/KL-KTHS ngày 05/12/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file video có tên “9_14_2025_8_33_53 PM (UTC+07_00).mp4", dung lượng 27,2MB, thời lượng 05 phút 08 giây lưu trữ trong đĩa 01 thiết bị lưu trữ USB màu bạc, nhãn hiệu Kioxia gửi giám định (bút lục 29)
Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Văn T quan sát file video nêu trên. T xác định có hình ảnh T đang thao tác rút tiền tại cây ATM từ thẻ ATM của anh Bùi Văn T1 (bút lục 138).
Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Nguyễn Văn T xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra. Kết quả, T xác định địa điểm trộm cắp tài sản tại các phòng 401 và phòng 502 nhà nghỉ S, đường N, phường B, tỉnh Bắc Ninh; địa điểm rút tiền từ thẻ ATM của anh Bùi Văn T1 tại cây ATM của ngân hàng V1 trên đường N, phường C, thành phố Hải Phòng; T thực nghiệm thuần thục động tác trộm cắp tài sản và rút tiền từ cây ATM như đã khai (bút lục 39; 58-68).
Đối với 01 thẻ ATM của ngân hàng M mà bị can T trộm cắp của anh Bùi Văn T1. Theo T khai đã làm rơi mất. Đối với chiếc xe mô tô biển số 30K2-2765 theo T khai đã bán cho người không quen biết ở thành phố T nên không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, ông Nguyễn Văn L là bố của Nguyễn Văn T đã bồi thường cho anh Bùi Văn T1 43.830.000 đồng và bồi thường cho anh Nguyễn Văn P 1.050.000 đồng. Những người bị hại không yêu cầu bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ cho bị can (bút lục 70, 74).
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 03 thẻ ATM cho anh Bùi Văn T1. Các vật chứng còn lại được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKS-KV1 ngày 17/12/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa: Bị cáo T khai nhận nội dung diễn biến sự việc như bản Cáo trạng nêu là đúng, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều, khoản trên là đúng, không oan. Hiện nay bị cáo đã về phường C sinh sống cùng với gia đình. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
Người liên quan ông Nguyễn Văn L trình bày: Ông là bố bị cáo, sau khi bị cáo đi đầu thú ông mới biết bị cáo đi trộm cắp tài sản, bị cáo đã tác động để ông bồi thường cho 02 bị hại, ông không có ý kiến gì về việc bỏ tiền bồi thường cho các bị hại và không yêu cầu bị cáo trả lại ông tiền.
- Hội đồng xét xử công bố lời khai của người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách từ 40 tháng đến 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi da gồm 04 ngăn màu đen, dây đeo bằng vải màu đen, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số “[...]” mang tên Nguyễn Văn T.
+ Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Những người vắng mặt đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T: Căn cứ đơn xin đầu thú của bị cáo Nguyễn Văn T, đơn trình báo của anh Bùi Văn T1, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Kết luận định giá tài sản số 35/KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự; căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại phiên toà và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là thống nhất với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, loại tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt và các chứng cứ khác phản ánh tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng việc thuê trọ tại nhà nghỉ S của gia đình ông Trần Mạnh H, ngày 14/9/2025 Nguyễn Văn T lấy chìa khóa dự phòng để tại quầy lễ tân rồi mở cửa phòng 401 của anh Nguyễn Văn P trộm cắp số tiền 1.050.000 đồng sau đó mở cửa phòng 502 của anh Bùi Văn T1 trộm cắp số tiền 430.000 đồng và 04 thẻ ngân hàng.T đi đến cây ATM của ngân hàng V1 trên đường N, phường C, thành phố Hải Phòng rút 43.400.000 đồng từ thẻ ATM V1 đã trộm cắp của anh T1. Tổng trị giá tài sản mà T trộm cắp của 2 người bị hại gồm tiền mặt, rút tiền qua tài khoản, chi phí cấp lại các thẻ ATM là 45.035.000 đồng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi trộm cắp của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh theo khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng, bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả; phạm tội lần và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
[7] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
[8] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND xã, phường nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1-Bắc Ninh cũng đảm bảo giáo dục bị cáo.
Do bị cáo được hưởng án treo nên cần hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 77A/2025/CĐKNCT- TA ngày 19/12/2025 đối với bị cáo.
[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để nộp ngân sách nhà nước, xong Hội đồng xét xử thấy trước khi phạm tội bị cáo đang đi học, là người không có công ăn việc làm, không có thu nhập nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi da gồm 04 ngăn màu đen, dây đeo bằng vải màu đen, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số “[...]” mang tên Nguyễn Văn T.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự
[13] Về các vấn đề khác có liên quan:
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Bùi Văn T1 đã nhận lại số tiền 43.830.000 đồng và anh Nguyễn Văn P đã nhận lại số tiền là 1.050.000 đồng bị trộm cắp, ông Nguyễn Văn L không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 44.880.000 đồng, đến nay không ai có yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về hình phạt và điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02( hai) năm tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường C, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 77A/2025/CĐKNCT- TA ngày 19/12/2025 đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 túi da gồm 04 ngăn màu đen, dây đeo bằng vải màu đen, đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân số “[...]” mang tên Nguyễn Văn T.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 332; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo, người có quy ền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thu Hà |
Bản án số 07/2026/HS-ST ngày 09/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 07/2026/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2026
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản"
