TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHU VỰC 5 – THANH HÓA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 02/2026/HN&GD-ST
Ngày 05/01/2026.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lường Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Bình
Bà Vũ Thị Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông La Văn Trình - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 248/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 18/12/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trịnh Văn D, sinh năm 1990. Có đơn xin vắng mặt.
CCCD số: [...]xxx
Địa chỉ: Thôn M, xã H, tỉnh Thanh Hóa
Bị đơn: Chị Bùi Thị S, sinh năm 1994. Có đơn xin vắng mặt
CCCD số: [...]xxx
Địa chỉ: Thôn M, xã H, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Nhà trọ hộ Nguyễn Tiến H, thôn Đ, phường N, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/11/2025, bản tự khai nguyên đơn anh Trịnh Văn D trình bày như sau:
Về hôn nhân: Tôi và chị Bùi Thị S tự nguyện tìm hiểu, cưới có đăng ký kết hôn do UBND xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa) cấp ngày 28/11/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm về quản lý kinh tế gia đình. Gia đình hai bên có hòa giải, động viên và chúng tôi cũng đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể tiếp tục chung sống. Vợ chồng tôi đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay tôi xét thấy vợ chồng sống ly thân đã lâu tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn chị Bùi Thị S.
Về con: Vợ chồng có 01 con chung là Trịnh Mai P, sinh ngày 17/6/2015. Ly hôn, nguyện vọng của tôi được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ: Vợ chồng không có tài sản, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 05/12/2025 chị Bùi Thị S trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và anh Trịnh Văn D tự nguyện tìm hiểu, cưới có đăng ký kết hôn do UBND xã M, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã H, tỉnh Thanh Hóa) cấp ngày 28/11/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinmh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ chồng không cùng quan điểm về quản lý kinh tế gia đình và không chung chí hướng làm ăn dẫn đến thường xuyên xảy ra cã vã, xung đột. Gia đình hai bên có hòa giải, động viên và chúng tôi cũng đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể tiếp tục chung sống. Vợ chồng tôi đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hiện nay tôi đang làm công ty tại tỉnh Bắc Ninh còn anh D làm tự do. Nay anh D làm đơn xin ly hôn tôi, tôi xét thấy vợ chồng sống ly thân đã lâu tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên tôi đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung cháu tên là Trịnh Mai P, sinh ngày 17/6/2015. Hiện nay cháu đang ở với anh D, Ly hôn nguyện vọng của chị là giao cháu P cho anh D tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị S tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh D mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu Phương thành N.
Theo Bản tự khai ngày 11/12/2025 cháu Trịnh Mai P trình bày:
Bố mẹ cháu đã sống ly thân 04 năm nay, hiện nay cháu đang ở bố, mẹ cháu vẫn hay điện về. Nếu bố mẹ không ở được với nhau nữa thì nguyện vọng của cháu là được ở với bố, mong Tòa án chấp nhận.
*Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự. Kết quả xác minh: Anh Trịnh Văn D và chị Bùi Thị S có đăng ký kết hôn vào năm 2014. Sau khi kết hôn anh D và chi Sinh sinh sống tại địa phương và có 01 con chung, đến năm 2021 vợ chồng có sảy ra mâu thuẫn nên chị S đã đi làm ăn vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là gì địa phương không nắm được.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án, các đương sự tham gia tố tụng đã được thực hiện đầy đủ, đảm bảo đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 55; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết ly hôn của anh Trịnh Văn D. Anh Trịnh Văn D được ly hôn chị Bùi Thị S.
Về con chung: Công nhận anh Trịnh Văn D và chị Bùi Thị S có 01 con chung là Trịnh Mai P, sinh ngày 17/6/2015. Giao cháu Trịnh Mai P cho anh Trịnh Văn D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Đề nghị HĐXX chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị S về cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu Mai P trưởng thành.
Về tài sản, công nợ: Anh Trịnh Văn D, chị Bùi Thị S không yêu cầu giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX buộc anh Trịnh Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tại thời điểm khởi kiện bị đơn có địa chỉ tại thôn M, xã H, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Bùi Thị S có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của BLTTDS. Tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của BLTTDS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về hôn nhân: Anh Trịnh Văn D và chị Bùi Thị S kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã M, huyện H (nay là xã H), tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa anh D và chị S là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống vợ chồng có sảy mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về kinh tế. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, anh D xin ly hôn chị S cũng đồng ý chứng tỏ rằng hôn nhân giữa anh D và chị S đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của anh D xin ly hôn chị S là phù hợp với tình trạng hôn nhân hiện nay của anh chị.
[4] Về con: Vợ chồng có 01 con chung là Trịnh Mai P, sinh ngày 17/6/2015. Anh D có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mai P. Xét thấy từ khi vợ chồng sống ly thân cháu Nguyễn Mai P1 đang ở cùng với bố, chị S cũng đồng ý giao cháu Trịnh Mai P cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cũng là nguyện vọng của cháu P nên cần giao cháu P cho anh D trực tiếp chăm sóc là phù hợp. Anh D không yêu cầu chị S cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên chị S tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) nên cần chấp nhận sự tự nguyện cấp dưỡng của chị S.
[5] Về tài sản và công nợ: Anh D, chị S không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6].Về án phí: Nguyên đơn Anh Trịnh Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, chị Bùi Thị S phải chịu án phí dân sự về cấp dưỡng theo quy định.
Mặc dù quan điểm của đại diện Viện kiểm sát không đề nghị HĐXX buộc chị Bùi Thị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng thực tế trong quá trình giải quyết vụ án anh D không yêu chị S cấp dưỡng nuôi con chung nhưng chị S tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Mai P mỗi tháng 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Để đảm bảo quyền lợi cho con chưa thành niên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của chị S trong phần Quyết định của Bản án vì vậy chị S phải chịu án phí đối với người có nghĩa vụ nuôi con theo định kỳ là đúng với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 235; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Trịnh Văn D
- Về hôn nhân: Anh Trịnh Văn D được ly hôn chị Bùi Thị S.
- Về con: Công nhận anh D, chị S có 01 con chung là Trịnh Mai P, sinh ngày 17/6/2015. Giao cháu Trịnh Mai P cho anh D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Chị Bùi Thị S tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 01/2026 cho đến khi cháu Mai P đủ tuổi thành niên.
Chị S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản và công nợ: Anh D, chị S không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Anh Trịnh Văn D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh D đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thanh Hóa theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003660 ngày 02 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Thanh Hóa (Anh D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm). Chị Bùi Thị S phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
THẨM
- - TAND tỉnh Thanh Hoá;
phiên toà
- - VKSND khu vực 5;
- - Phòng THADS khu vực 5;
- - UBND xã Hậu Lộc;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ
Lường Thị Hoa
Bản án số 02/2026/HN&GD-ST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 02/2026/HN&GD-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
