Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – GIA LAI

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 01/2026/HSST

Ngày 05-01-2026

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Đình Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Tô Thị Lành;
  2. Ông Nguyễn Bá Lý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2025, đối với:

1. Bị cáo:

Lê Phi Đ, sinh ngày: 11 tháng 6 năm 2002, tại Gia Lai. CCCD số: [...].

Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Tổ D, phường H, tỉnh Gia Lai;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không.

Cha: Lê Kim S - Sinh năm 1980.

Mẹ: Mai Thị Kim T - Sinh năm 1980.

Bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 2007.

Sống chung như vợ chồng: Huỳnh Ngọc Nhã T1 - Sinh năm 2006 và có 01 người con chung, sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/6/2025 đến ngày 30/6/2025, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P - Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh G.

Có mặt

2. Bị hại:

Ông Lê Văn T2, sinh năm 1962. Địa chỉ: B H, phường D, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Lê Kim S, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường H, tỉnh Gia Lai. Có mặt

Anh Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1981. Địa chỉ: A P, phường P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Anh Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ dân phố A P, phường P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1993. Địa chỉ: H N, phường P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp và cần tiền tiêu xài cá nhân, chơi game, Lê Phi Đ nảy sinh ý định cướp tài sản của tài xế xe ôm. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 27/6/2025, Đ chuẩn bị 01 con dao Thái Lan (cán màu vàng, dài khoảng 20cm) và 04 sợi dây rút nhựa màu trắng bỏ vào túi áo khoác, rồi đi bộ từ nhà tại Tổ D, phường H, thành phố P ra hướng đường H để tìm mục tiêu.

Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, tại khu vực trước công viên S, Đ phát hiện ông Lê Văn T2 (tài xế Grab B) đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển kiểm soát 81AX-038.29 dừng chờ đèn đỏ. Đ vẫy xe và yêu cầu ông T2 chở về khu vực Ngã tư L. Sau đó, Đ tiếp tục yêu cầu ông T2 chạy lòng vòng qua nhiều tuyến đường nhằm tìm địa điểm vắng vẻ. Khi đến hẻm D L, phường H, nhận thấy đoạn đường tối và vắng người, Đ ngồi phía sau rút dao Thái Lan dí vào vùng bụng ông T2, đe dọa và khống chế buộc ông T2 phải dừng xe, đi xuống lề đường. Tiếp đó, Đ lấy dây rút nhựa yêu cầu ông T2 đưa tay ra để trói lại. Đ đã chiếm đoạt của ông T2: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, 01 điện thoại di động hiệu OPPO (đang gắn phía trước xe) và 01 ví da bên trong có 2.000.000 đồng cùng các giấy tờ tùy thân rồi tẩu thoát.

Sau khi chiếm đoạt tài sản, Đ đến tiệm cầm đồ “24H” tại số E L, phường P, cầm cố chiếc xe mô tô cho anh Nguyễn Văn T5 lấy 7.000.000 đồng. Tiếp đó, Đ đến tiệm điện thoại “Tân Thế Giới” tại số A P, bán chiếc điện thoại OPPO cho anh Nguyễn Thanh T4 lấy 1.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được Đ đã tiêu xài hết.

Ngày 29/6/2025, Lê Phi Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đầu thú. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ các tang vật gồm 01 xe mô tô và 01 điện thoại di động nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 165/KL-HĐĐGTTHS ngày 12/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Future BKS 81AX-038.29 trị giá: 22.000.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno trị giá: 4.833.333 đồng.
  • - 01 ví da màu nâu: 0 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 28.833.333 đồng.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô và điện thoại di động cho bị hại Lê Văn T2. Đối với con dao Thái Lan và ví da, do bị cáo vứt bỏ không thu hồi được nên Cơ quan điều tra không xử lý. Riêng 04 sợi dây rút nhựa là công cụ phạm tội được chuyển theo hồ sơ vụ án để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường cho ông T2 20.000.000 đồng, bồi thường cho anh Nguyễn Thanh T3 (chủ tiệm T6) 1.500.000 đồng và anh Nguyễn Văn T5 7.000.000 đồng. Các bên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Phi Đ, bị hại và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khai nhận nội dung như trên. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Gia Lai đã ban hành Cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 08/12/2025, truy tố bị cáo Lê Phi Đ về tội: “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
  • - Xử phạt bị cáo Lê Phi Đ từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù.
  • - Miễn hình phạt bổ sung và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định.

Ý kiến tranh luận: Không.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo bày tỏ sự hối hận và mong muốn được giảm nhẹ hình phạt để sớm hòa nhập xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Gia Lai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Đối với bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Thanh T4 và Nguyễn Văn T5 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết toàn bộ vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo Lê Phi Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu, vật chứng đã thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 27/6/2025, tại hẻm S đường L, phường H, tỉnh Gia Lai, Lê Phi Đ đã có hành vi dùng dao Thái Lan là hung khí nguy hiểm đe dọa, khống chế và dùng dây rút nhựa trói tay ông Lê Văn T2 nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt gồm: 01 xe mô tô Honda Future, 01 điện thoại OPPO và tiền mặt, tổng trị giá thành tiền là 28.833.333 đồng.

Hành vi của bị cáo có sử dụng dao — là hung khí nguy hiểm – để khống chế bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản, thuộc trường hợp “sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác”. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Gia Lai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về quyết định hình phạt:

[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Những tình tiết này được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.2]Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản và đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại, gây mất trật tự, an toàn tại địa phương. Bị cáo nhận thức rõ việc mang theo dao và dây rút để đe dọa, khống chế bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; thiệt hại đã được khắc phục hoàn toàn, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt thấp hơn so với mức Viện kiểm sát đề nghị, tạo điều kiện để bị cáo sớm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với các tài sản bị chiếm đoạt: Gồm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO. Quá trình điều tra đã xác định đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị hại ông Lê Văn T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành bàn giao, trả lại các tài sản nêu trên cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối với các công cụ phạm tội: 04 sợi dây rút nhựa là vật chứng được bị cáo sử dụng để khống chế bị hại. Xét thấy đây là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với các vật chứng không thu hồi được: Gồm 01 con dao Thái Lan và 01 chiếc ví da. Theo lời khai của bị cáo, sau khi gây án bị cáo đã vứt bỏ trên đường lẩn trốn nên Cơ quan điều tra không thu hồi được. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, gia đình bị cáo Lê Phi Đ đã tự nguyện thỏa thuận và thực hiện việc bồi thường khắc phục hậu quả cho các bên liên quan.

Đến nay, bị hại ông Lê Văn T2 cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh T3 và anh T5 đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy việc bồi thường là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án này.

[6] Về án phí:

Bị cáo Lê Phi Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[7] Về những vấn đề khác:

[7.1]. Đối với hành vi liên quan của bị cáo Lê Phi Đ:

Xét hành vi sử dụng dao của bị cáo Lê Phi Đ trong quá trình thực hiện tội phạm có dấu hiệu của tội “Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ” tại Điều 304 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, con dao đã bị bị cáo vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được nên không đủ căn cứ giám định để xác định chủng loại, tính năng, từ đó chưa đủ cơ sở xử lý. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất với Viện kiểm sát, chưa xem xét trách nhiệm đối với hành vi này trong vụ án; kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định.

[7.2] Đối với anh Nguyễn Thanh T4

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, khi mua chiếc điện thoại OPPO từ bị cáo, anh T4 không biết đây là tài sản do phạm tội mà có. Do đó, không có căn cứ xác định anh T4 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; việc Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là phù hợp pháp luật.

[7.3] Đối với anh Nguyễn Văn T5

Khi nhận cầm cố xe mô tô biển kiểm soát 81AX-038.29, anh T5 không biết tài sản do bị cáo chiếm đoạt nên không có căn cứ xử lý hình sự về hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tuy nhiên, việc nhận cầm cố tài sản không có giấy tờ hợp lệ của chủ sở hữu có dấu hiệu vi phạm quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thuộc trường hợp quy định tại điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Phòng C - Công an tỉnh G đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm này; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra việc xem xét thêm trong vụ án này.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Phi Đ phạm tội “Cướp tài sản”.

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

    Xử phạt bị cáo Lê Phi Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 29/6/2025).

  2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) sợi dây rút nhựa là công cụ phạm tội.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/12/2025, giữa: Công an tỉnh G và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Gia Lai)

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo Lê Phi Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Kim S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt (bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND khu vực 7 – Gia Lai;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng THADS khu vực 7 – Gia Lai;
  • - Bị cáo, Người bào chữa (nếu có);
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án. (13)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vũ Đình Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2026/HSST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI về cướp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 01/2026/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Phi Đ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 29/6/2025).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger